Chương I quy định năm loại tội phạm như sau : - Tội phạm hàng giả. - Tội phạm sao chép công cụ giả. - Tội phạm sử dụng công cụ giả. - Tội phạm sử dụng bản sao chép của công cụ giả.
- Tội phạm liên quan đến chuyển tiền, cổ phiếu, hộ chiếu.com/224/34/editorial/2/1 13 Khung hình phạt cho năm loại tội phạm này là phạt tiền nhưng không quá mức luật quy định (theo hướng dẫn của Đạo luật Tòa Án 1980 là 1000 bảng18), hình phạt tù nhưng không quá mười năm. Chương II quy định sáu loại tội phạm về tiền giả như sau: - Tội phạm sản xuất tiền/tiền xu giả. - Tội phạm lưu thông, sử dụng tiền/tiền xu giả. - Tội phạm liên quan đến lưu thông, sử dụng tiền/tiền xu giả.
- Tội phạm liên quan đến sản xuất, thiết kế tiền/tiền xu giả, sao chép tiền thật. - Tội phạm tái sản xuất các loại ngoại tệ của Vương Quốc Anh. - Tội phạm mô phỏng đồng tiền Anh. Đạo luật cũng quy định cấm nhập khẩu, xuất khẩu tiền/tiền xu giả19.
Khung hình phạt cho sáu loại tội phạm ở trên là phạt tiền nhưng không quá mức luật quy định (theo hướng dẫn của Đạo luật Tòa Án 1980 là 1000 bảng20), hình phạt tù nhưng không quá mười năm. Quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới Điều 10bis Công ước Paris cũng ghi nhận các trường hợp sử dụng nhãn hiệu nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh, trong đó khẳng định rằng bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể, các hành vi sau đây sẽ bị coi là cạnh tranh không lành mạnh và bị ngăn cấm21: - Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh; - Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của người cạnh tranh; - Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá. 18 Section 6, clause 5 (a) Forgery and Counterfeiting Act 1981.
19 Section 20, 21 Forgery and Counterfeiting Act 1981. 20 Section 22, clause 6 (a) Forgery and Counterfeiting Act 1981. 21 Khoản (2), (3) Điều 10bis Công Ước Paris. 14 Bên cạnh đó, tại hướng dẫn cạnh tranh không lành mạnh của Liên minh châu Âu (EC Unfair Commercial Practices Directive) có dành hẳn nguyên một Chương để nói về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Unfair Commercial Practices).
Như đã trình bày ở phần các khái niệm, hướng dẫn cạnh tranh không lành mạnh của Liên minh châu Âu quy định rất rõ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ bị cấm22. Đáng chú ý tại Điều 5 (2) của hướng dẫn có đưa ra các trường hợp cạnh tranh được xem là không lành mạnh nếu như (a) nó trái với những yêu cầu mang tính khả thi và (b) về cơ bản bóp méo hoặc có khả năng bóp méo tư cách kinh doanh liên quan đến sản phẩm mà người tiêu dùng ở mức độ trung bình có thể tiếp cận đến hoặc đối với thành viên trung bình của một nhóm khách hàng đặc thù mà hành vi cạnh tranh nhắm đến. Đặc biệt tại Điều 5 (4) của chỉ dẫn có quy định các hành vi cạnh tranh cố ý gây hiểu nhầm hoặc mang tính công kích được xem là không lành mạnh. Có thể hiểu rằng một hành vi được xem là gây hiểu nhầm nếu như nó chứa đựng thông tin không chính xác hoặc không đáng tin cậy, lừa dối hoặc có khả năng lừa dối người tiêu dùng ở mức độ trung bình23; một hành vi được xem là mang tính công kích nếu nội dung của nó có chứa các đặc trưng, hoàn cảnh gây nên sự quấy rối, cưỡng ép, ảnh hưởng quá mức, điều đó ảnh hưởng một cách đáng kể hoặc có khả năng ảnh hưởng một cách đáng kể đến sự tự do lựa chọn của người tiêu dùng ở mức độ trung bình24.
Hiệp định TRIPS chỉ nhắc đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với chỉ dẫn địa lý25 và bảo hộ thông tin bí mật26, viện dẫn theo Điều 10bis Công ước Paris. Qui định pháp luật hiện hành về chống hàng giả và cạnh tranh không lành mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu tại Việt Nam Về khía cạnh các quy định pháp lý, Việt Nam đã có một hệ thống bảo hộ quyền SHTT tương đối ổn, trong đó khung pháp lý bao gồm Luật SHTT và hệ 22 Điều 5 (1) EC Unfair Commercial Practices Directive 23 Điều 6 (1) EC Unfair Commercial Practices Directive. 24 Điều 8 EC Unfair Commercial Practices Directive. 25 Điểm b, Khoản 2, Điều 22 TRIPS.
26 Khoản 1 Điều 39 TRIPS. 15 thống các văn bản hướng dẫn thi hành luật trên cơ bản đã đáp ứng đủ yêu cầu của Hiệp định TRIPS/Công Ước Paris/WTO mà Việt Nam đã ký kết, hỗ trợ tích cực cho việc thực thi quyền SHTT trên địa bàn các thành phố lớn nhất nhì nước như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Phân tích theo chiều ngang Đầu tiên tác giả sẽ điểm qua và phân tích các quy định tại các văn bản luật khác nhau có liên quan đến khía cạnh chống cạnh tranh không lành mạnh đối với tên thương mại và nhãn hiệu. Khác với các nước trên thế giới, pháp luật cạnh tranh Việt Nam lại có định nghĩa khác về hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”27.
Tuy vậy ba đặc trưng cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh vẫn được thể hiện một cách rõ ràng: (i) là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, (ii) trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, (iii) gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Điều 39 của Luật Cạnh Tranh 2004 liệt kê một loạt chín hành vi được xem là cạnh tranh không lành mạnh theo luật này và để mở các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác được xác định theo định nghĩa vừa nêu ở trên của luật này. Tức là một hành vi dù không nằm trong chín hành vi bị liệt kê là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng nếu hành vi đó thỏa mãn ba đặc trưng cơ bản đã nêu vẫn có khả năng được xác định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Điều này vô hình chung tạo nên một khoảng không gian mở để các cơ quan thực thi cũng như chủ sở hữu quyền, các bên vi phạm có thể diễn giải, vận dụng linh hoạt nhằm giải thích theo hướng có lợi cho bên mình.
Ngoài ra Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005, sửa đổi năm 2009 cũng có quy định các hành vi nào bị xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại điều 130 với góc tiếp 27 Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004. 16 cận hoàn toàn khác. Cụ thể, các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh: a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ; b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ; c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng; d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng. Trong đó Chỉ dẫn thương mại được hiểu là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá28.
Một điều tiến bộ của Luật SHTT rất đáng được ghi nhận đó là tại khoản 3 Điều này hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại được giải thích, hiểu theo phạm vi khá rộng bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó. Với việc được hiểu theo nghĩa rộng như thế sẽ giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc xác định những vi phạm cụ thể cũng như tự tin hơn trong hoạt động thực thi. 28 Khoản 2, Điều 130 Luật SHTT 17 Bên cạnh đó tại khoản 2 của Điều 129 Luật SHTT có quy định như thế nào là xâm phạm quyền đối với tên thương mại : “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại”. Tiếp sau đây tác giả sẽ đi đến phân tích các quy định tại các văn bản luật có liên quan đến vấn đề chống hàng giả hay còn gọi là hàng giả mạo nhãn hiệu.