CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HÓA ĐƠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SỬ DỤNG HÓA ĐƠN ĐẶT IN 1. Thuế và thất thu thuế: Thuế Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Thuế là nguồn thu quan trọng của Ngân sách quốc gia.
Nước nào cũng có những khoản chi ngân sách hàng năm. Để tài trợ những khoản chi công đó, có 5 nguồn tài trợ chính sau: Bằng thuế; Bằng cách phát hành tiền tệ; Bằng cách phát hành công trái; Nhận viện trợ hoàn lại và vay, nợ nước ngoài; Nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài. Trong đó, thuế giữ vai trò quan trọng hơn cả, vì thuế có sự điều tiết, chia sẻ và công bằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nói lên vấn đề tự chủ về tài chính của một quốc gia. Vậy, ta có thể định nghĩa về thuế như sau: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật của mỗi tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để trang trải các chi phí vì lợi ích chung của toàn dân như: quốc phòng, an ninh, giao thông, giáo dục, y tế,.” Thất thu thuế Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khoá nào.
Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi ích của DN (hay lợi ích cá nhân). Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn nhau, Nhà nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế, trong khi đó DN luôn mong muốn giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt. Nói cách khác, ở đâu có thuế khoá thì ở đó có thất thu. Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành hai dạng: thất thu thực tế và thất thu tiềm năng.
Trong đó, thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luật thuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúng quy định. 7 van Còn thất thu tiềm năng, bao hàm cả trường hợp “lách thuế”có nguyên nhân từ kẽ hở của luật pháp hoặc sự buông lỏng quản lý, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên vào ngân sách nhưng lại không thu được, vì chưa có quy định của luật pháp. Thất thu thuế từ nguyên nhân quản lý hoá đơn nói chung và hoá đơn đặt in nói riêng: Trong cơ chế DN tự kê khai, tự nộp thuế thì hoá đơn chứng từ là cơ sở để DN xác định số thuế phải nộp, do đó thất thu thuế do DN trốn thuế, gian lận thuế cũng bắt đầu từ hoá đơn chứng từ. Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế được thực hiện qua các hành vi: Bán hàng nhưng không xuất hoá đơn, xuất hoá đơn nhưng không có hàng hoá, dịch vụ mua bán hoặc giá trị hàng hoá, dịch vụ mua bán không đúng với giá trị ghi trên hoá đơn (hoá đơn khống), sử dụng bất hợp pháp hoá đơn (ghi các liên hoá đơn không giống nhau), sử dụng hoá đơn giả, hoá đơn hết giá trị sử dụng … Thất thu thuế từ quản lý hoá đơn nói chung và hoá đơn đặt in nói riêng chưa thể thống kê cụ thể vì nó xảy ra dưới nhiều hình thức và qui mô khác nhau nhưng qua số liệu của một số địa phương có thể khẳng định rằng số thuế thất thu là rất lớn.
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế cho thấy, tính đến ngày 25/12/2017, cơ quan thuế các cấp đã thực hiện 97.233 cuộc thanh tra, kiểm tra, đạt 107,06% kế hoạch năm 2017; với tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là hơn 17.900 tỷ đồng, giảm khấu trừ hơn 1.600 tỷ đồng; giảm lỗ hơn 34.100 tỷ đồng; số tiền thuế nộp vào ngân sách hơn 14. Trong đó, đã tiến hành thanh tra, kiểm tra được 364 doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết; truy thu, truy hoàn và phạt hơn 1.306 tỷ đồng; giảm lỗ hơn 6.000 tỷ đồng; điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế hơn 2.798 tỷ đồng (theo website: thoibaotaichinhvietnam. Một số vấn đề về quản lý hóa đơn Khái niệm về quản lý Có thể sử dụng khái niệm quản lý sau đây: “Quản lý là ngành khoa học, nghệ thuật và một nghề nhằm huy động tất cả các nguồn lực (nhất là nguồn nhân lực), thông qua các quy trình, kỹ thuật, tác động có chủ đích, hướng tới việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức” 8 van Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để nhằm huy động tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo những quy định của pháp luật về thuế. Khái niệm về hóa đơn “Hóa đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác định khối lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ” (Điều 3, Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ) “Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật” (điểm 1, Điều 3 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ) Theo Luật kế toán “Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh theo nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán”.
Quy định trên cũng có nghĩa: Hóa đơn là chứng từ kế toán do người bán lập, xác nhận quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thanh toán, là căn cứ ghi sổ kế toán, kê khai thuế, quyết toán tài chính và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, hóa đơn là một loại chứng từ gốc đặc biệt quan trọng cả trên phương diện quản lý tài chính doanh nghiệp và trên phương diện quản lý thuế của cơ quan quản lý nhà nước. Tạo hóa đơn là hoạt động làm ra hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh, gồm: Tự in từ các máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp; đặt in tại các doanh nghiệp đủ điều kiện in hóa đơn; mua hóa đơn của cơ quan thuế hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử theo Luật giao dịch điện tử. Lập hóa đơn là việc ghi đầy đủ nội dung của hóa đơn theo quy định khi bán hàng hóa, dịch vụ.
Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định của Nhà nước. 9 van Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn. Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được in, khởi tạo theo quy định nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành. Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành, được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp và cơ quan thuế đã ban hành thông báo hóa đơn hết giá trị sử dụng; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân đã ngưng sử dụng mã số thuế (hay là đóng mã số thuế).
Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng hoặc sử dụng hóa đơn của tổ chức, cá nhân khác (trừ hóa đơn do cơ quan thuế phát hành) để lập khi bán hàng hóa, dịch vụ, để hạch toán kế toán, khai thuế, thanh toán vốn ngân sách. Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, dịch vụ; cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung đã lập; lập hóa đơn sai lệch các nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác; dùng hóa đơn quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông. Quy định về quản lý hóa đơn Tổng cục Thuế quy định cụ thể đối với các bộ phận và nội dung quản lý hóa đơn. Quy định các bộ phận trong cơ quan Thuế tham gia thực hiện Quy trình quản lý hóa đơn, gồm: - Bộ phận quản lý ấn chỉ; - Bộ phận Tuyên truyền và hỗ trợ NNT; 10 van - Bộ phận kiểm tra: Thanh tra thuế, Kiểm tra thuế; Kiểm tra nội bộ; - Bộ phận kê khai và kế toán thuế; - Bộ phận Quản lý nợ; - Bộ phận Tin học.
Quy định các nội dung trong quy trình quản lý hóa đơn, gồm: - Quản lý hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in do cơ quan Thuế phát hành; - Quản lý hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in do các tổ chức kinh doanh phát hành; - Quản lý hoạt động nhận in hóa đơn của các doanh nghiệp in ấn; - Theo dõi hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn khỏi địa chỉ KD mang theo HĐ; - Xác minh nguồn gốc phát hành hóa đơn, phối hợp thanh tra, kiểm tra hóa đơn. Một số vấn đề về hóa đơn đặt in - Đặc điểm của hóa đơn + Hóa đơn do người bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ thu tiền lập nên, mỗi số hóa đơn được lập cho những hàng hóa, dịch vụ có cùng thuế suất (đối với thuế GTGT) + Hóa đơn phải có các chỉ tiêu: họ tên, địa chỉ, điện thoại, mã số thuế (nếu có), tài khoản thanh toán (nếu có) của cả người mua và người bán, tên hàng hóa dịch vụ, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền, hình thức thanh toán, thuế suất, tiền thuế GTGT (nếu có), tổng số tiền thanh toán, chữ ký người mua hàng, người bán hàng.