CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Tổng quan về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực để sản xuất và kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và các lợi ích kinh tế xã hội khác. Đặc điểm của đầu tư Đầu tư là một hoạt động sử dụng vốn nhằm mục đích sinh lời.
Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Đầu tư được thực hiện trong một thời gian dài thường từ 1 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án. Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
Vai trò của đầu tư a) Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế - Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng 24% - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ 5 Q0 - Q1 và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P0 – P1.
Điểm cân bằng dịch chuyển từ E 0 - E 1. - Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên (đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q 0 - Q1 và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P0 - P1. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa.
Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Tác động của đầu tư đến đường cung cầu Qua sự phân tích trên ta thầy rằng, đầu tư ảnh hưởng mạnh tới cả tổng cung và tổng cầu. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ cho nền kinh tế nhưng đứng về mặt cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giá cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người.
Như vậy đầu tư là nhân tố cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế. b) Đầu tư góp phần nâng cao năng lực sản xuất Đầu tư có ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động về trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kỷ luật lao động. Thông qua đào tạo mới và đào tạo lại, cải tiến máy móc. c) Đầu tư làm tăng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Khoa học công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện tiên quyết để các nước đang phát triển có thể thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá thành công, đi tắt đón đầu để tránh tụt hậu về kinh tế.
6 Hiện nay, Việt Nam là một trong 90 nước kém nhất về công nghệ, máy móc công nghệ lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Trước nay đầu tư cho khoa học công nghệ ít được quan tâm chú ý bằng các hình thức đầu tư khác do thiếu vốn, do chưa nhận thức được vai trò của công nghệ. Điều đó làm hạn chế tốc độ cũng như chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy muốn cải thiện tình hình này không còn cách nào khác là phải đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc, có thể bằng con đường tự nghiên cứu phát minh hoặc nhập công nghệ mới từ nước ngoài.
Nhật Bản là một minh chứng hết sức cụ thể, tốc độ tăng trưởng thần kỳ cùng với những bước nhảy vọt về kinh tế để trở thành một cường quốc như ngày hôm nay có sự đóng góp không nhỏ của quá trình tìm tòi sáng tạo, nghiên cứu triển khai công nghệ trong và ngoài nước của toàn thể nhân dân Nhật Bản. d) Đầu tư là nhân tố quyết định đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư có vai trò rất lớn làm gia tăng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao. Nhìn chung đầu tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ thì đem lại hiệu quả cao hơn đầu tư vào nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và khả năng sinh học (một đồng vốn đầu tư bỏ vào ngành công nghiệp sẽ làm gia tăng giá trị sản xuất hơn là ngành nông nghiệp). Hoạt động đầu tư luôn tìm kiếm những lĩnh vực cho lợi nhuận cao nhất vì vậy đã tạo nên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Đầu tư không những làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành mà còn có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên - địa lý - kinh tế - chính trị - xã hội của các vùng, tạo cơ chế lan truyền thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển. Tổng quan về dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án đầu tư Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong phạm vi giới hạn về thời gian và nguồn lực. Đặc điểm của dự án đầu tư Dự án đầu tư có mục đích, kết quả xác định.
Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ 7 khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. Có thời gian thực hiện với điểm bắt đầu và kết thúc xác định, dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo, giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Dự án không kéo dài mãi mãi.
Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được trao cho bộ phận quản lý vận hành. Liên quan tới nhiều bộ phận chuyên môn, liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao.
Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên ở nhiều dự án tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Có các yêu cầu cụ thể về thời gian, ngân sách và chất lượng, hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường cáo độ rủi ro cao.
Vì vậy cần yêu cầu cụ thể về thời gian, ngân sách và chất lượng để hạn chế rủi ro. Phân loại dự án đầu tư a) Phân theo lĩnh vực hoạt động - Dự án phát triển cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông. - Dự án sản xuất kinh doanh. - Dự án phát triển văn hóa - xã hội.
b) Phân theo mức độ đầu tư - Đầu tư xây dựng mới. - Cải tạo mở rộng, nâng cấp. - Tổng mức đầu tư từ lớn đến nhỏ có: nhóm A, B và C. 8 c) Theo thời gian hoạt động - Dự án đầu tư ngắn hạn: thời gian ≤ 5 năm.