chương 1. “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” – Ganesham, Ran and Terry P. Như vậy chuỗi cung ứng là mối liên kết thành dòng chảy của các bên liên quan, để nguyên vật liệu được chuyển thành sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Để quá trình này diễn ra trôi chảy, cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất, khách hàng.
Quản tri chuỗ ̣ i cung ứng Để hoa ̣t đô ̣ng chuỗi cung ứng diễn ra nhip̣ nhàng, hiê ̣u quả, tổ chức cầ n phải xây dựng hoa ̣t đô ̣ng quản tri ̣ cho tấ t cả các khâu. Sau đây là mô ̣t số đinh ̣ nghiã về quản tri ̣chuỗi cung ứng: “Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống đồng thời đề ra sách lược phối hợp các chức năng trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng nhằm mục đích nâng cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn” – Mentzer, Dewitt, Min, Nix, Smith và Zachia, (2001), trang 8. “Quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động định hướng, quản lý hai chiều và phối hợp của sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính thành dòng chảy từ nguyên vật liệu đến người sử dụng cuối cùng” – Robert M. “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các công cụ từ lập kế hoạch và điều khiển các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hóa thành sản SVTH: Nguyễn Thị Nguyệt Hằng Trang 13 do an Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Khắc Hiếu phẩm và vận chuyển sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng” – Joe D.
Wisner, Keah – Choon Tan, G. Keong Leong (2009), trang 8. Như vậy có thể khái quát về quản trị chuỗi cung ứng như sau: “quản trị chuỗi cung ứng là tập trung quản lý các mối quan hệ trong thành phần chuỗi cung ứng” – Huỳnh Thị Thu Sương (2012), trang 15. Các mô hình chuỗi cung ứng 2.
Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Các mô hình chuỗi dây chuyền cung ứng được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp. Một công ty sản xuất sẽ nằm trong mô hình đơn giản, khi họ chỉ mua NVL từ một nhà cung cấp, sau đó tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng. Ở đây, công ty chỉ xử lý việc mua NVL rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và tại một địa điểm duy nhất. Nhà cung cấp Công ty Khách hàng Hiǹ h 2.1: Chuỗi cung ứng đơn giản [Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr.
Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Trong mô hình phức tạp (mô hình mở rộng) doanh nghiệp sẽ mua NVL từ các nhà cung cấp, từ các nhà phân phối và từ các nhà máy "chị em" (có điểm tương đồng với nhà sản xuất). Ngoài việc sản xuất ra sản phẩm, doanh nghiệp còn đón nhận nhiều nguồn cung cấp bổ trợ cho quá trình sản xuất từ các nhà thầu phụ và đối tác sản xuất theo hợp đồng. Trong mô hình phức tạp này, hệ thống SCM phải xử lý việc mua sản phẩm trực tiếp hoặc mua qua trung gian, làm ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến các nhà máy "chị em" để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm hoàn thiện. Các công ty sản xuất phức tạp sẽ bán và vận chuyển sản phẩm trực tiếp đến khách hàng hoặc thông qua nhiều kênh bán hàng khác, chẳng hạn như các nhà bán lẻ, các nhà phân phối và các nhà sản xuất thiết bị gốc.
Hoạt động này bao quát nhiều địa điểm với sản phẩm, hàng hóa tại các trung tâm phân phối được bổ sung từ các nhà máy sản xuất. Đơn đặt hàng có thể được chuyển từ các nhà máy xác định, đòi hỏi công ty SVTH: Nguyễn Thị Nguyệt Hằng Trang 14 do an Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Khắc Hiếu phải có tầm nhìn về danh mục sản phẩm/ dịch vụ đang có trong toàn bộ hệ thống phân phối. Các sản phẩm có thể tiếp tục được phân bổ ra thị trường từ địa điểm nhà cung cấp và thầu phụ. Sơ đồ dưới đây thể hiện rõ hơn hoạt động của các thành viên như nhà cung cấp, khách hàng, công ty, nhà cung cấp dịch vụ.
trong chuỗi cung ứng mở rộng. Nhà cung Nhà Khách Khách cấp cuối cung Công ty hàng hàng cùng cấp cuố i cùng Nhà cung cấp cuối cùng dich ̣ vu ̣ Hiǹ h 2.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng [Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr.24] Nhà cung cấ p dich ̣ vu ̣ như: Logistics, tài chin ́ h, nghiên cứu thi ̣trường, thiế t kế sản phẩ m, công nghê ̣ thông tin. Thành phầ n của chuỗi cung ứng 2. Nhà sản xuất Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm.
Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất NVL và công ty sản xuất thành phẩm. Các nhà sản xuất NVL như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ… và cũng bao gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thủy hải sản. Các nhà sản xuất thành phẩm sử dụng NVL và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các công ty khác. Nhà phân phối Nhà phân phố i là những công ty tồ n trữ hàng với số lươ ̣ng lớn từ nhà sản xuấ t và phân phố i sản phẩ m đế n khách hàng.
Chức năng chính của các nhà phân phối là điều phối các dao động về cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách trữ hàng SVTH: Nguyễn Thị Nguyệt Hằng Trang 15 do an Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Khắc Hiếu tồn và thực hiện nhiều họat động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng. Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Nhà bán lẻ Nhà bán lẻ là những người chuyên trữ hàng và bán với số lượng nhỏ hơn đến người tiêu dùng cuối cùng. Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, để mang về những sản phẩm phù hợp.
Do nổ lực chin ́ h là thu hút khách hàng đố i với những sản phẩ m mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử du ̣ng mô ̣t số kỹ thuâ ̣t kế t hơ ̣p về giá cả, sự lựa cho ̣n và sự tiê ̣n du ̣ng của sản phẩ m. Các cửa hàng tạp hóa, hệ thống siêu thị, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm đều là những nhà bán lẻ. Khách hàng Khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng sản phẩm. Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp với sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác.
Nắm bắt nhu cầu của khách hàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản trị chuỗi cung ứng. Nhà cung cấp dịch vụ Đây là những công ty cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ phát triển chuyên môn và các kỹ năng đặc biệt nhằm tập trung vào một hoạt động đặc thù mà chuỗi cung ứng cần. Nhờ điều này, họ có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn và ở một mức giá tốt hơn các nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà phân phối, hay khách hàng tự làm.
Mục tiêu của chuỗi cung ứng Mục tiêu của chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tổng thể của chuỗi. Giá trị của một chuỗi được tạo ra từ sự khác biệt giữa sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nổ lực mà chuỗi cung ứng dùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Đối với hầu hết các chuỗi thương mại, giá trị liên quan mạnh tới khả năng sinh lời của chuỗi cung ứng ( được coi như giá trị thặng dư của chuỗi cung ứng), đó là sự khác biệt giữa lợi nhuận được tạo ra từ khách hàng và tổng chi phí trong chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận được chia sẽ xuyên suốt SVTH: Nguyễn Thị Nguyệt Hằng Trang 16 do an Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Khắc Hiếu chuỗi.
Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thành công của chuỗi cung ứng càng lớn. Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo lường bằng khả năng sinh lợi của chuỗi chứ không phải bằng lợi nhuận ở mỗi giai đoạn riêng lẻ. Vì vậy, trọng tâm không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng cách tiếp cận hệ thống vào quản trị chuỗi cung ứng. Hoạt động của chuỗi cung ứng 2.
Hoa ̣t đô ̣ng mua hàng Quá trình thu mua sẽ từ khâu đặt hàng, xác nhận giao hàng, giao hàng, thanh toán cho nhà cung cấp. Ngoài ra cũng tổ chức cũng tìm kiếm, đánh giá nhà cung cấp, duy trì và xây dựng mối quan hệ với nhà cung cấp. Công tác này thực hiện thường xuyên sẽ giúp cho doanh nghiệp có đươ ̣c nguồn hàng có chất lươ ̣ng ổn định, phù hợp với yêu cầu trong sản xuất, tiết giảm được chi phí. Doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện các công tác quản trị nội bộ liên quan như quản lý tồn kho, mạng lưới thông tin với nhà cung cấp, hoạt động xuất nhập khẩu, vận tải.
Hoa ̣t đô ̣ng sản xuất Sản xuất là nói đến năng lực của chuỗi cung ứng để tạo ra và tồn trữ sản phẩm. Các phương tiện sản xuất là các nhà máy và kho. Quyết định cơ bản đặt ra cho các giám đốc khi quyết định sản xuất là làm thế nào đáp ứng nhanh và hiệu quả. Nếu các nhà máy và kho được xây dựng dư thừa công suất, chúng có khả năng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu sản phẩm đa dạng.
Mặt khác, công suất dư thừa không phát sinh lợi nhuận. Vì thế càng tồn nhiều công suất dư thừa, sản xuất càng kém hiệu quả. Khi nhâ ̣n đươ ̣c vâ ̣t liê ̣u từ nhà cung cấ p, doanh nghiê ̣p sẽ tiế n hành sản xuấ t ra sản phẩ m để đáp ứng yêu cầ u kho khách hàng. Có thể lựa cho các phương án để sản xuấ t như sản xuấ t theo đơn hàng, sản xuấ t để dự trữ và lắ p ráp theo đơn hàng.