Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái niệm hệ thống kiếm soát nội bộ Mọi doanh nghiệp hoạt động đều có chung mục tiêu là lợi nhuận, để đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả mong muốn, nhà quản lý luôn phải chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát. Kiểm tra là việc soát xét để đánh giá, phân loại, điều chỉnh các mục tiêu, định mức, định hướng còn kiểm soát là việc xem xét lại, nắm bắt và điều hành đối tượng quản lý. Nếu như quản lý được thực hiện trên cả tầm vĩ mô và vi mô thì kiểm tra, kiểm soát cũng gắn với mỗi phạm vi đó.
Vì vậy kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý, tồn tại trong tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Quá trình nhận thức và nghiên cứu về hệ thống KSNB (Kiểm soát nội bộ) đã dẫn đến các định nghĩa khác nhau về hệ thống này: Theo chuẩn mực Kiểm toán ISA 400: hệ thống KSNB là toàn bộ những chính sách và thủ tục do ban Giám đốc đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ các chính sách quản lý, bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện ra sai sót hay gian lận, tính đầy đủ và chính xác của các ghi chép kế toán, đảm bảo lập các báo cáo trong thời gian mong muốn. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống KSNB là một hệ thống chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được các mục tiêu: bảo vệ tài sản đơn vị, bảo đảm độ tin cậy và trung thực của các thông tin báo cáo, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và những quy định, bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động.
Luan van 5 Bốn mục tiêu trên nằm trong một thể thống nhất song đôi khi cũng có mâu thuẩn với nhau. Nhiệm vụ của các nhà quản lý là xây dựng một HTKSNB hữu hiệu và kết hợp hài hòa bốn mục tiêu trên. Như vậy, có thể đi đến khái niệm về hệ thống KSNB như sau: Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm bảo đảm hiệu năng và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị: Bảo đảm sự tuân thủ quy định của đơn vị và pháp luật của Nhà nước: đảm bảo độ tin cậy của thông tin và bảo vệ tài sản của đơn vị. Vậy KSNB là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả mục tiêu đặt ra của đơn vị.
Vì thế, KSNB có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biết là đối với các đơn vị có quy mô lớn, vì quy mô càng lớn thì quyền hạn phải phân chia cho nhiều cấp, tài sản phân tán nhiều nơi, sự truyền đạt và phản hồi thông tin gặp khó khăn,. do đó đòi hỏi phải có một hệ thống KSNB tốt. Chức năng của hệ thông kiểm soát nội bộ Hệ thống KSNB chủ yếu do chính nhà quản lý đơn vị xây dựng để phục vụ cho mục đích quản lý của mình. Khi thiết lập và vận hành một hệ thống KSNB, các nhà quản lý doanh nghiệp luôn hướng tới các mục đích đã vạch sẵn.
Kết hợp quan điểm của các tổ chức khác nhau, có thể thấy hệ thống KSNB có các chức năng và nhiệm vụ sau: - Giúp cho việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả. - Mang lại sự đảm bảo chắc chắn là các quyết định, các chế độ quản lý được thực hiện đúng thể thức đồng thời giám sát mức độ hiệu quả của các quyết định và chế độ đó. - Phát hiện kịp thời những rắc rối, sai sót, rủi ro trong kinh doanh để hoạch định và thực hiện các biện pháp điều chỉnh, đối phó. Luan van 6 - Ngăn chặn và phát hiện các sai phạm, gian lận trong kinh doanh.
- Ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ và các hoạt động kinh doanh phát sinh. - Đảm bảo việc lập báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan. - Bảo vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích. Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo quan điểm của IFAC cũng như của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Mỹ (American Institute of Certified Public Accountants – AICPA), hệ thống KSNB bao gồm 3 bộ phận cấu thành cơ bản: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của đơn vị, nó chi phối ý thức kiểm soát của một thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các biện pháp của hệ thống KSNB. Các nhân tố thuộc môi trường kiểm soát này chủ yếu liên quan đến thái độ, nhận thức và hành động của người quản lý. Bởi tính hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào nhà quản lý của doanh nghiệp đó. Vì vậy, chúng có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống KSNB của đơn vị.
Một là; Đặc thù về quản lý còn được thể hiện ở cơ cấu quyền lực hay phân bố quyền lực trong đơn vị. Ở một số đơn vị, việc quản lý được tập trung và chi phối bởi một cá nhân. Ngược lại ở một số đơn vị, quyền lực được phân tán cho nhiều người trong bộ máy quản lý. Ở đây vấn đề quan trọng lại là việc sử dụng quyền lực của những người được phân quyền theo hướng dẫn sử dụng đúng các quyền được giao, tránh sự lạm dụng các quyền hạn này.
Luan van 7 Hai là: Cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức của một đơn vị thực chất là sự phân chia nhiệm vụ quyền hạn giữa các thành viên trong đơn vị. Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ góp phần tạo ra môi trường kiểm soát tốt, bảo đảm cho các hoạt động trong đơn vị được xuyên suốt và hiệu quả từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định, có khả năng ngăn ngừa các vi phạm, loại bỏ những hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến sai sót, gian lận. Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn phải thiết lập sự điều hành và kiếm soát toàn bộ hoạt động đơn vị sao cho không bị chồng chéo, thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát giữa các bộ phận.
Ba là: Chính sách nhân sự. Chính sách nhân sự bao gồm toàn bộ các chính sách và chế độ quản lý nhân sự của đơn vị đối với việc tuyển dụng, đánh giá, đề bạt khen thưởng và kỷ luật các nhân viên. Con người luôn đóng vai trò quyết định trong quá trình quản lý, vì lẽ đó chính sách nhân sự có ảnh hường quan trọng đến việc thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát của đơn vị. Vì sự phát triển của doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họ chính là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiếm soát trong hoạt động của đơn vị.
Nên việc tuyển dụng, đào tạo, đề bạt nhân sự phải phù hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đồng thời phải mang tính kế thừa và liên tiếp. Bốn là: Công tác kế hoạch. Các kế hoạch của doanh nghiệp sẽ là cơ sở tốt cho các mục tiêu của hệ thống KSNB. Trong đó, hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính cũng như các dự án, phương án tiêu thụ chiến lược của bộ phận quản lý.
Việc lập kế hoạch sẽ giúp cho đơn vị hoạt động đúng hướng và có hiệu quả. Công tác kế hoạch Luan van 8 nếu được tiến hành một cách nghiêm túc và khoa học cũng sẽ trở thành một công cụ kiểm soát hữu hiệu, giúp đơn vị có thể phát hiện, ngăn ngừa được những sai sót, gian lận trong các hoạt động SXKD. Vì thế, các nhà quản lý luôn quan tâm, xem xét về tiến độ thực hiện kế hoạch, so sánh số liệu báo cáo với số liệu kế hoạch để phát hiện những vấn đề khác thường và kịp thời xử lý. Năm là: Bộ phận kiểm toán nội bộ.
Bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự giám sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị. Vì vậy, bộ phận kiểm toán nội bộ là một nhân tố cơ bản trong môi trường kiểm soát và là một hoạt động nội bộ kiểm tra có tính độc lập trong các doanh nghiệp. Một bộ phận kiểm toán nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho đơn vị có những thông tin kịp thời và xác thực về tình hình hoạt động nói chung, về chất lượng công tác kiểm soát nói riêng, từ đó điều chỉnh, bổ sung các thủ tục, quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả hơn. Sáu là: Ủy ban kiểm soát.
Ủy ban kiểm soát thường gồm từ 3 đến 5 thành viên của hội đồng quản trị làm nhiệm vụ giám sát mọi hoạt động của đơn vị từ việc chấp hành luật pháp của Nhà nước đến các công việc cụ thể của việc kiểm soát nội bộ trong đơn vị. Các thành viên này thường không phải là viên chức hoặc nhân viên của đơn vị để bảo đảm tính độc lập khách quan. Sự độc lập và tính hữu hiệu của Ủy ban kiểm soát là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát. Bảy là: Các nhân tố bên ngoài.
Các nhân tố này vượt ra ngoài sự kiểm soát của nhà quản lý đơn vị nhưng nó lại có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, cung cách điều hành của nhà quản lý và các quy chế, thủ tục kiểm soát cụ thể. Thuộc nhóm nhân tố này thường là: ảnh hưởng của các cơ quan chức năng của Nhà nước (thuế, hải quan, kho bạc.), các chủ nợ và các trách nhiệm pháp lý có liên quan. Hệ thống kế toán Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin chủ yếu của doanh nghiệp.