Chương I: Cơ sở lý luận về hệ thống KSNB trong tô chức Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ban QLDA. GNKV Tây Nguyên huyện Tu Mơ Rông Chương 3: Các đề xuất nhằm hoàn thiện HTKSNB tại Ban QLDA. GNKV Tây Nguyên huyện Tu Mơ Rông 6. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo các công trình nghiên cứu, lựa chọn một số tài liệu liên quan đề làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình như: Giáo trình “Kiểm soát nội bộ”, “Kiểm toán căn bản” Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về HTKSNB.
Bài viết này căn cứ vào các chuẩn mực của HTKSNB theo mô, hình của COSO để phân tích thực trạng những yếu kém về KSNB của các tổ chức hành chính sự nghiệp nhà nước theo năm thành phần chính: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Hệ thống thông tin và truyền thông; Hoạt động giám sát. Căn cứ vào đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện HTKSNB trên năm thành phân trên. Tác giả đã tham khảo một số tài liệu, luận văn về kiểm soát nội bộ như: Tác giả Đường Nguyễn Hưng (2016) "Kiểm soát nội bộ" NXB Giáo Dục Việt Nam. Tác giả Đoàn Thị Ngọc Trai (2018) "Giáo trình Kiểm toán căn bản" NXB Giáo Dục Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2009) "Giáo trình Kiểm soát quản lý", NXB Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả Nguyễn Quang Quynh va Ngô Trí Tuệ (2006) "Giáo trình Kiểm toán tài chính", NXB. Đại học Kinh tế quốc dân. Trường Đại học Kinh tế TP-Hồ Chí Minh (2016), Kiểm soát nội bộ, NXB Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.
Thuộc lĩnh vực ngân hàng có: Tác giả Trần Thị Minh Thư (2001) “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong tổng công ty nhà nước Việt Nam”. Tác giả Lê Quốc Nghị (2005) “Hoàn thiện hệ thống Kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ ngân hàng nhà nước Việt Nam theo hướng hiện đại, phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ Quốc tế”. Tác giả Phạm Quỳnh Như Sương (2010) “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”. Tác giả Trần Dũng Khôi Nguyên (2013) “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Sai Gòn Thương Tín”.
Tác giả Giáp Hồng Vân (2014) “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chỉ nhánh Bình Định”. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt, với chức năng tạo tiền, thanh toán và tín dụng. Vì vậy việc xây dựng mô hình tô chức hệ thống KSNB phù hợp đề đạt được mục tiêu của tổ chức là vô cùng quan trọng. Các nghiên cứu đã khái quát được đặc điểm của hệ thông ngân hàng có ảnh hướng tới thiết kế và vận hành hệ thống KSNB, đánh giá được thực trạng hệ thống KSNB tại các ngân hàng từ đó đưa ra các giải pháp kiến nghị và hoàn thi Thuộc các Doanh nghiệp, Công ty cổ phần có các nghiên cứu: Tác giả Dinh Thuy Ngan Trang (2007) "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát i bd tai Cong ty Nuplex Resins Việt Nam".
Tác giả Dương Thị Thanh Hiền (2011) “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Trường cao. đẳng nghề cơ điện Phú Thọ”. Tác giả Nguyễn Thu Hoài (2011) “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam”. Tác giả Lại Thị Thu Thủy (2012) "Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hướng đến quản lý rủi ro trong doanh nghiệp".
Tác giá Bùi Thị Minh Hải (2012) về “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam”. Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (2014) “Hoàn thiện hệ thống Kiểm soát nội bộ tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam”. Tác giả Thịnh Văn Vinh (2016) "Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo luật kế toán 2015" Tác giả đã đề cập tới hệ thống KSNB trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin và nêu ra được đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty, từ đó đánh giá được thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện (ứng dụng ERP, hệ thống đánh giá rủi ro, môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát. Tác giả Nguyễn Hồng Ánh (2008) "Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại cơ quan Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh".
Tác giả Võ Năm (2010) "Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Định". Tác giả Nguyễn Duy Thành (2010), hoàn thiện hệ thống kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Thái Nguyên". Tác giả Văn Thế Vinh (2015) "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Cục thuế tỉnh Bình Định". Tác giả Nguyễn Ngọc Oanh (2016) " loàn thiện kiểm soát nội bộ chỉ ngân sách tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai".
Tác giả Phạm Ngọc Thanh (2017), "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ban Quản lý Dự án Phát triển Nông thôn tông hợp các tỉnh miền Trung ~ Khoản vay bô sung". Các đề tài đã nêu lên được thực trạng của hệ thống KSNB và đưa ra các giải pháp phủ hợp với đối tượng khảo sát, đưa ra những lý lì in co ban vé kiém soát nội bộ và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hoàn thiện hệ thống, kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về hệ thống KSNB trong một đơn vị có tính chất đặc thù như Ban QLDA huyện Tu Mơ Rông. Đề tài của tác giả đã góp phần làm phong phú thêm tài liệu nghiên cứu về KSNB trong các đơn vị đặc thù như các Ban QLDA giảm nghèo.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HE THONG KIEM SOAT NOI BO TRONG TO CHUC 1. KHÁI NIEM VE HE THONG KIEM SOAT NOI BO Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm điều hành các hoạt động của đơn vị. Các bước kiểm soát là các biện pháp được tiến hành để xem xét và khẳng định các biện pháp quản lý khác có được tiến hành hiệu quả và thích hợp hay không. Theo khuôn khổ SAS 55 (Chuẩn mực kiểm toán số 55): Cấu trúc kiểm soát nội bộ của một tổ chức bao gồm các chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đem lại sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu cụ thể của tổ chức.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ của một tổ chức bao gồm ba thành phần như sau: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Khuôn khổ kiểm soát nội bộ SAC (Kiểm soát và khả năng kiểm toán các hệ thống thông tin): KSNB là một tập hợp các tiến trình, các chức năng, các hoạt động, các hệ thống và con người được tô chức thành từng nhóm hay được phân tách có mục đích nhằm bảo đảm việc đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu mà có thể đo lường cu thé Luật Kế toán 2015 cho rằng: " KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán có cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phủ hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra". Khuôn khổ COSO (Ủy ban quốc gia về chống gian lận trên Báo cáo tài chính của Mỹ được thành lập năm 1985) được ban hành năm 1992 đã đưa ra định nghĩa về Hệ thống kiểm soát nội bộ như sau: “KSNB là một quá trình do Ban Giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị chỉ phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định được tuân thủ và hoạt động hữu hiệu và có hiệu quả”. Khuôn khổ COSO hướng đến tạo lập một khuôn khô để giúp ban quản lý có thể kiểm soát tổ chức một cách tốt hơn đồng thời giúp cho ban lãnh đạo đơn vị có thêm khả năng để giám sát kiểm soát nội bộ của tổ chức.
Khuôn khổ COSO được sửa đổi và ban hành lại năm 2013, KSNB là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan. Khuôn khổ COSO đề xuất hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 5 thành phần như sau: ~ Môi trường kiểm soát (control environment): Bao gồm các yếu tố tạo lập môi trường của cả HTKSNB. ~ Đánh giá rủi ro (risk assessment): Bao gồm việc nhận diện rủi ro và đánh giá các rủi ro. - Hoạt động kiểm soát (control activities): Bao gồm các hoạt động kiểm soát cụ thê đối phó với các rủi ro.
- Thông tin va trao déi théng tin (information and communication): Bao gồm việc tạo lập, cung cấp thông tin và trao đổi thông tin phục vu cho sự vận hành các thành phần của HTKSNB. - Hoạt động giám sát (monitoring activities): Bao gồm các hoạt động đánh giá thường xuyên và đánh giá chuyên biệt tính hữu hiệu của HTKSNB So với khuôn khổ kiểm soát nội bộ SAS 55 và SAC, khuôn khổ COSO' là một sự phát triển toàn diện hơn. Môi trường kiểm soát trong khuôn khổ 10 COSO gồm nhiều nội dung, nhấn mạnh sự cam kết đối với các giá trị đạo đức và các hành động được thiết lập trên cơ sở các chính sách và các thủ tục kiểm. Đồng thời đặt hệ thống kế toán trong thành phần thông tin và mô tả thông tin như là một khái niệm bao trùm hệ thống thông tin nói chung chứ không chỉ hệ thống kế toán.
Hai thành phần đánh giá rủi ro và hoạt động giám sát trong khuôn khổ COSO, đây là sự phản ánh các yếu tố "động" của rủi ro và tính hữu hiệu của HTKSNB. Nghĩa là các yếu tố rủi ro thường xuyên thay đổi do sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, bên cạnh đó sự hữu hiệu của một HTKSNB là không bắt biến. Bản chất của KSNB chính là các biện pháp đối phó với các rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức.