CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐẤU THẦU 1. Khái niệm, bản chất và vai trò của đấu thầu 1. Khái niệm Thuật ngữ đấu thầu đã trở nên quen thuộc ở Việt Nam trong hơn chục năm trở lại đây mặc dù nó đã xuất hiện từ lâu trên Thế giới bởi thuật ngữ này gắn với một hoạt động chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Đấu thầu là quá trình thực hiện một hoạt động mua bán đặc biệt mà người mua yêu cầu một hoặc nhiều người bán cung cấp những bản chào hàng cho một dịch vụ, công trình hoặc một hàng hoá cần mua nào đó và trên cơ sở những bản chào hàng, người mua sẽ lập cho mình một hoặc một vài người bán tốt nhất.
Trong đấu thầu người ta nổi bật lên tính cạnh tranh của những nhà dự thầu hay những người bán, do vậy đấu thầu chỉ có thể thực hiện được trong nền kinh tế thị trường. Trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam còn ở trong chế độ bao cấp, người bán chỉ sản xuất và bán những gì mình có và không quan tâm đến nhu cầu của người mua, do đó người mua không có quyền lựa chọn cho mình những hàng hoá phù hợp. Chỉ đến khi nền kinh tế Việt Nam chuyển dần sang hướng thị trường thì tính cạnh tranh xuất hiện, khái niệm về đấu thầu cũng dần dần hình thành và được chấp nhận như một điều tất yếu. Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 đã quy định: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Vai trò của các bên trong đấu thầu. Đối với bên mời thầu: Đấu thầu giúp cho người mua mua được hàng hoá, công trình hay dịch vụ mình cần một cách tốt nhất hay nói một cách khác là sử dụng đồng tiền của mình một cách có hiệu quả nhất. Người chủ đầu tư luôn muốn bỏ ra một khoản tiền để nhằm thu lại một lợi nhuận là lớn nhất chính vì vậy bằng cách tổ chức đấu thầu, nếu 11 như không bị ràng buộc bởi các điều kiện khác sẽ tìm cho mình những nhà cung cấp đầu vào tốt nhất cũng như người khai thác tốt nhất kết quả đầu tư, như vậy hoạt động đấu thầu xuất hiện cùng với hoạt động đầu tư và nó giúp cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã ghi rõ: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu.
Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm mục đích cạnh tranh công bằng và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án. Ngoài vai trò quan trọng trên thì đấu thầu còn có một số tác dụng sau: Phát hiện ra những sản phẩm tương đương với sản phẩm cần thiết: Khi tham gia đấu thầu các nhà thầu có thể đưa ra những giải pháp thực hiện công việc cũng như các sản phẩm khác nhau mà vẫn đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu. Điều này tạo ra cơ hội tốt để bên mời thầu phát hiện và có thể sử dụng sản phẩm mới. Phát hiện và tiếp cận được những nhà thầu (hay người cung cấp) mới: bằng cách tổ chức đấu thầu cạnh tranh rộng rãi (không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia), bên mời thầu có điều kiện phát hiện ra những nhà thầu có điều kiện phát hiện ra những nhà cung cấp tiềm năng mới.
Hiểu biết và nắm vững những quy định, điều luật trong lĩnh vực mua sắm. Làm tăng uy tín của bên mời thầu trong môi trường kinh doanh: nếu thực hiện đấu thầu một cách nghiêm túc thì bên mời thầu sẽ tạo ra được sự tin tưởng đối với các nhà thầu và do đó các nhà thầu cũng sẽ tham gia một cách nghiêm túc. Đối với nhà thầu: Nếu mục đích của bên mời thầu khi tổ chức đấu thầu là mua được sản phẩm đáp ứng yêu cầu với giá cả hợp lý nhất thì mục đích của các nhà thầu là bán được sản phẩm với giá mình muốn tức là giá chào thầu. Trước khi đưa ra giá chào thầu các nhà thầu phải nghiên cứu giá thành sản phẩm của mình đồng thời phải tìm hiểu các nhà thầu khác sao cho giá chào thầu có tính cạnh tranh cao thì mới có khả năng trúng thầu.
Do đó, muốn đạt được thành công trong đấu thầu thì các nhà thầu buộc phải phát huy tối đa khả năng cạnh tranh của mình bằng cách nâng cao chất lượng 12 sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới hay hạ giá thành sản phẩm. Đối với những nhà cung cấp mới hoặc chưa có tiếng tăm trên thị trường thì đấu thầu là cách giúp họ tự khẳng định mình và sự thành công sẽ mang lại cho các nhà thầu cơ hội để phát triển. Từ đó ta có rút ra khái niệm chung của đấu thầu: là cuộc cạnh tranh công khai giữa các nhà thầu với cùng một điều kiện nhằm giành được là nhà cung cấp do chủ đầu tư mời thầu, xét thầu và chọn thầu theo các quy định của nhà nước. Nguyên tắc đấu thầu Trong đấu thầu cần tuân thủ các nguyên tắc sau: 1) Nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng: Đấu thầu đòi hỏi sự cạnh tranh cao giữa các nhà thầu, vì vậy cần phải có một khuôn khổ pháp lý chặt chẽ để tạo ra một môi trường lành mạnh trong đó các nhà thầu đều được bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt đối xử giữa các nhà thầu ở các thành phần kinh tế khác nhau.
Bình đẳng trong tất cả các giai đoạn của đấu thầu từ việc cung cấp thông tin từ chủ đầu tư, đến việc tham dự quá trình mở thầu, và công bố kết quả thầu. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì cạnh tranh là điều kiện tồn tại của nền kinh tế thị trường. 2) Nguyên tắc bí mật: Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu tư phải giữ bí mật về các số liệu, thông tin như: Giá dự thầu của các nhà thầu trước khi mở thầu, Các ý kiến trao đổi của các nhà thầu đối với chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu,. Mục đích của nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính khách quan và công bằng tránh thiệt hại cho chủ đầu tư trong trường hợp giá dự thầu thấp hơn giá dự kiến hay gây thiệt hại cho một bên đầu tư nào đó do thông tin bị lộ tới một bên khác.
3) Nguyên tắc minh bạch: Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc yêu cầu bắt buộc trừ những công trình đặc biệt thuộc bí mật quốc gia, những công trình còn lại đểu phải đảm bảo công khai các thông tin cần thiết trong khi mời thầu và giai đoạn mở thầu. Nguyên tắc minh bạch đồng thời cũng có nghĩa là chống sự gian lận trong đấu thầu như thông đồng, móc ngoặc giữa nhà thầu và bên mời thầu, 13 giữa các nhà thầu với nhau; cố ý tiết lộ thông tin, bí mật trong quá trình đấu thầu, đặt ra các điều kiện, tiêu chuẩn xét thầu không liên quan đến yêu cầu của gói thầu nhằm loại bỏ nhà thầu. 4) Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ: Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu tư cũng như các bên dự án phải có năng lực thực tế về kinh tế, kỹ thuật, nhân sự. để thực hiện những điều cam kết khi đấu thầu.
Nó sẽ tránh thiệt hại do việc chủ đầu tư hay bên dự thầu không đủ năng lực để thực hiện các cam kết của mình , làm mất đi tính hiệu quả của công tác đấu thầu, gây tổn thất cho Nhà nước. 5) Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế: Nguyên tắc này là mục tiêu của quá trình đấu thầu, nó chi phối quá trình đấu thầu từ việc quy định hình thức đấu thầu, kế hoạch đấu thầu cho đến tiêu chuẩn xét thầu và lựa chọn nhà thầu trúng thầu. Quy trình thủ tục đấu thầu tư vấn theo quy định hiện hành 1. Hình thức đấu thầu Có rất nhiều hình thức đấu thầu trong đầu tư, dựa vào đặc điểm đối tượng mà bên mời thầu muốn mua người ta chia ra làm 4 loại là: đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đấu thầu xây lắp, đấu thầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ và đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án.
Tuy nhiên trong chuyên đề này chúng ta sẽ đi nghiên cứu sâu về đấu thầu tuyển chọn tư vấn vì đây chính là công việc đấu thấu của công ty mà người viết đang nghiên cứu. Hình thức lựa chọn nhà thầu Theo quy định của Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì các hình thức lựa chọn nhà thầu sau: 1) Đấu thầu rộng rãi: Là hình thức đấu thầu mà bất kỳ nhà thầu nào đủ điều kiện đều có thể tham gia nếu muốn, hình thức này không hạn chế về số lượng nhà thầu tham gia. Trong hồ sơ mời thầu Bên mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra 14 sự cạnh tranh không bình đẳng. 2) Đấu thầu hạn chế: Là hình thức đấu thầu mà chỉ có một số nhà thầu nhất định được mời tham gia dự thầu (tối thiểu là 5).
Bên mời thầu áp dụng hình thức này khi thấy rằng các yêu cầu của mình chỉ có một số nhà thấu có thể đáp ứng hoặc do những quy định không cho phép bên mời thầu được áp dụng các hình thức khác. Hình thức hạn chế thường được áp dụng cho đấu thầu tuyển chọn tư vấn. 3) Chỉ định thầu: Là hình thức đấu thầu mà chỉ có duy nhất một nhà thầu được tham gia và chính nhà thầu này được lựa chọn để thực hiện các yêu cầu của bên mời thầu.