CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU VÀ QUẢN LÝ ĐẤU THẦU 1.1 Lịch sử phát triển của đấu thầu trong và ngoài nước 1.1 Sự hình thành và phát triển của đấu thầu quốc tế: Đấu thầu là một hình thức mua bán đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử nhân loại. Cùng với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, các hình thức mua bán cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Trong số đó có hình thức đấu thầu. Rất nhiều nước trên thế giới đã sử dụng một cách có hiệu quả phương thức mua sắm này.
Ngày nay đấu thầu không chỉ tồn tại trong một lĩnh vực, một địa phương, một quốc gia mà đã vượt ra ngoài biên giới. ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Đức, Pháp, Ý,.đấu thầu được áp dụng rộng rãi để xây dựng các công trình công cộng, các công trình lớn đều phải nhờ phương pháp mua bán nêu trên. Vào thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước, phần lớn các nước đang phát triển sử dụng phương pháp đấu thầu để mua máy móc thiết bị. Việc phổ biến rộng rãi phương pháp này ở các nước đang phát triển có liên quan chặt chẽ tới sự can thiệp của Nhà nước vào trong đời sống kinh tế.
Ở đại đa số các nước phát triển, Nhà nước ban hành những điều luật buộc các nhà nhập khẩu chỉ được mua của nước ngoài bằng phương pháp đấu thầu khi trị giá lô hàng vượt một số tiền nhất định, hoặc khi nhập khẩu thiết bị. Điều đó được thể hiện trong các quy định của Mianma, Cộng hòa A rập, Ai cập và nhiều nước châu Mỹ la tinh. Theo ước tính, ở các nước đang phát triển khoảng 80% cuộc mua bán máy móc thiết bị được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu. Hình thức đấu thầu càng trở nên phổ biến khi mà nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài ngày càng gia tăng.
Theo đánh giá của các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Ngân hàng Thế giới thì trong những năm 60, 70 vốn đầu tư của nước ngoài chiếm từ 10 – 20% tổng vốn đầu tư của các quốc gia. Mà phần lớn những nguồn vốn này khi mua sắm, xây dựng. đều sử dụng đấu thầu. Ở các nước đang phát triển 20 – 40% trị giá hàng hóa nhập khẩu do các tổ chức Nhà nước thực hiện hiện thông qua đấu thầu.
Ở Việt Nam, hình thức đấu thầu đã và đang được sử dụng rộng rãi trong mua sắm, 5 xây dựng các công trình, nhà máy, hầm mỏ,. Về mặt lịch sử, hình thức đấu thầu đã xuất hiện từ thời kỳ Pháp thuộc. Khi đó các nhà thầu được gọi dưới tên các nhà thầu khoán. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã tổ chức đấu thầu xây dựng công trình thủy lợi Dầu tiếng với vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) vào năm 1979 tại Câu lạc bộ Quốc tế.
Kể từ đó tới nay chúng ta đã tổ chức nhiều cuộc đấu thầu với số lượng và quy mô ngày càng lớn.2 Sự hình thành và phát triển của đấu thầu trong nước Đấu thầu xây lắp là phương thức mà chủ đầu tư sử dụng để tổ chức cạnh tranh giữa các nhà thầu xây dựng nhằm lựa chọn một nhà thầu xây lắp có khả năng thực hiện tốt nhất các yêu cầu của dự án. Các yêu cầu đó thường là những yêu cầu về mặt kinh tế - tài chính, yêu cầu về mặt kĩ thuật, yêu cầu về mặt tiến độ thi công… Thực chất của đấu thầu xây lắp là việc ứng dụng phương pháp xét hiệu quả kinh tế trong việc lựa chọn tổ chức thi công xây dựng. Phương pháp này đòi hỏi sự so sánh giữa các tổ chức xây dựng trên cùng một phương diện (như kĩ thuật hay tài chính) để chọn lấy một nhà thầu có đủ khả năng sau đó lại so sánh tiếp. Kết quả cuối cùng sẽ tìm ra được một tổ chức xây dựng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư.
Đấu thầu xây lắp có một số đặc điểm khác so với đấu thầu trong những lĩnh vực khác. Cụ thể: - Sản phẩm của sản xuất xây lắp có đặc điểm là mang tính đơn chiếc, công trình đặt tại một vị trí cố định, phục vụ cho một mục đích cụ thể, một chủ trương quản lí sử dụng, không phải là hàng hoá thông thường mua bán trên thị trường, khối lượng vật chất, tiền vốn tiêu hao, số lao động tham gia vào quá trình sản xuất lớn gấp nhiều lần các loại sản phẩm thuộc lĩnh vực khác, một công trình có nhiều ngành nghề và tổ chức cùng tham gia. - Thời gian hoàn thành công trình dài, khi đã thực hiện các bước như chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng…thì không thể dễ dàng thay đổi, đình hoãn. Điều đó chứng tỏ xây dựng cơ bản là một quá trình sản xuất phức tạp, đa dạng có tác dụng cũng như hậu quả lâu dài về sau.
Quy mô của công trình càng lớn thì mối quan hệ với các ngành, lĩnh vực càng phức tạp và có tác động lớn đến việc phân bố lại lực lượng sản 6 xuất và dân cư, tác động đến môi sinh, môi trường và cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật khác. Vì thế việc áp dụng đấu thầu trong xây dựng cơ bản không những phải đạt được tiêu chuẩn một công trình với giá thành rẻ, chất lượng cao mà còn phải đặt trong tổng thể phát triển của nền kinh tế xã hội. Vào cuối những năm 30 và đầu những năm 40 cùng với sự phát triển của thị trường kinh tế tư bản trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi chế độ bán đấu giá cũng phải được áp dụng rộng rãi. Nhưng bán đấu giá chưa có đủ cơ sở để thực hiện trong lĩnh vực đặc thù riêng như: chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ bản…do vậy đấu thầu ra đời.
Việc ra đời của pháp luật về đấu thầu nói chung cũng như đấu thầu xây lắp nói riêng là một tất yếu khách quan. Có thể khái quát quá trình phát triển của pháp luật về đấu thầu xây lắp qua các giai đoạn sau: a. Giai đoạn trước khi có Quy chế đấu thầu ban hành kèm Nghị định 43/CP của Chính phủ ban hành ngày 16/07/1996: Ở Việt nam từ 1988 trở về trước, quá trình đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện theo Điều lệ Xây dựng cơ bản ban hành theo Nghị định số 232/CP ngày 06/06/1981 các doanh nghiệp xây lắp theo phương thức tự làm và giao nhận thầu xây dựng. Tuy nhiên hai phương thức này có nhược điểm mang tính chất tự cung tự cấp, có nhiều thiếu sót trong thủ tục xây dựng cơ bản.
Mặt trái của phương thức giao nhận thầu là hiện tượng mua bán thầu, cho nên có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng sản phẩm. Kết quả là có nhiều công trình thi công có chất lượng kém, khi đưa vào sử dụng thì không hiệu quả. Do đó để khắc phục những tồn tại của phương thức cũ, đáp ứng đòi hỏi của cơ chế mới. Vào tháng 11/1987 trong Quyết định 217-HĐBT có đưa ra một số điều quy định về đấu thầu.
Tuy nhiên vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể vì vậy việc áp dụng và thực hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả.Ngày 09/05/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 80-HĐBT về các chính sách đổi mới cơ chế quản lí xây dựng cơ bản. Nhằm đáp ứng yêu cầu quy định của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 10/01/1989 Thông tư hướng dẫn tạm thời số 03/BXD-VKT đã ra đời. Tuy nhiên Thông tư hướng dẫn số 03 còn có nhiều khiếm khuyết khi áp dụng vào 7 thực tế. Vì vậy, đến ngày 12/02/1990 Bộ xây dựng đã ban hành Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT thay thế cho Thông tư số 03/BXD-VKT.
Có thể nói rằng quy chế đấu thầu trong xây dựng ban hành kèm theo Quyết định 24/BXD-VKT là quy chế đầu tiên về hoạt động đấu thầu xây dựng của Việt Nam.Trong văn bản này các vấn đề cơ bản về đấu thầu xây dựng (phạm vi, đối tượng điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ của các bên, các hình thức và trình độ tổ chức đấu thầu …) đã được quy định. Tuy chưa đầy đủ song chúng đã khái quát được một số nét cần thiết nhất để thực hiện đấu thầu xây dựng. Trong quy chế này mục tiêu của đấu thầu chưa được đặt ra nhưng có thể thấy rằng việc ban hành quy chế này đã tạo nên một nền tảng pháp lý để qua đó tạo nên một sân chơi bình đẳng, mang tính cạnh tranh cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Giai đoạn áp dụng Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP của Chính phủ ban hành ngày 16/07/1996 và Nghị định số 93/1997/NĐ-CP ngày 23/08/1997 Nói chung Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT còn mang nặng tính quản lý về mặt hành chính Nhà nước.
Bốn năm sau ngày ban hành Quy chế này, thực hiện cải tiến công tác đơn giá, dự toán nhằm chống lãng phí, thất thoát và tiêu cực trong đầu tư và xây dựng theo Quyết định số 92-TT ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ xây dựng đã ban hành Quy chế đấu thầu trong xây lắp kèm theo Quyết định số 60-BXD/VKT ngày 30/3/1994. Quy chế này thay thế Quy chế đấu thầu trong xây dựng kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT ngày 12/2/1990. Đây là một bước tiến rõ rệt của việc điều chỉnh công tác đấu thầu trong xây dựng ở Việt Nam giai đoạn này. Quy chế gồm 32 điều, quy định một cách rõ ràng, chi tiết đấu thầu trong xây dựng.
Các quy định của quy chế mở rộng hơn hình thức đấu thầu, phạm vi các công trình cần đấu thầu và quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu. Tuy vậy, trình tự đấu thầu chưa được quy định cụ thể. Việc quản lý hồ sơ được quy định ở mức độ chưa cao, chưa đảm bảo được nguyên tắc bảo mật của đấu thầu. Quy chế chỉ quy định hai hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế mà chưa có chỉ định thầu.
Có thể nói hai quy chế đấu thầu ra đời trong điều kiện nền kinh tế vừa thoát khỏi cơ 8 chế quản lý cũ nên khó có thể thoát khỏi các dấu ấn của quản lý hành chính. Các quy định chưa bao quát được hết tình hình thực tế, chưa theo kịp sự phát tiển của nền kinh tế. Do đó, chỉ hai năm sau Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/1996/NĐ-CP ngày 17/07/96 về thủ tục đấu thầu, trong đó dành hẳn một chương cho đấu thầu trong xây dựng.