CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CÁN CÂN VÃNG LAI 1.1 Tiếp cận cán cân vãng lai (CA) 1.1 Khái niệm cán cân vãng lai Phụ thuộc vào từng mục đích phân tích mà các nhà kinh tế học đưa ra những định nghĩa khác nhau về cán cân vãng lai. Có bốn khái niệm khác nhau về cán cân vãng lai. Thứ nhất: Cán cân vãng lai hay còn gọi là tài khoản vãng lai là một trong những khoản mục chính của cán cân thanh toán quốc tế, phản ảnh các khoản thu, chi của một nước với phần còn lại của thế giới (định nghĩa của IMF). Hay nói cách khác, cán cân vãng lai là tổng của chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M) cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NF) và chuyển khoản ròng từ nước ngoài (NTR).
Theo định nghĩa này, tài khoản vãng lai (CA) sẽ bằng: CA= X-M+NF+NTR Thứ hai: Xét từ khía cạnh tiết kiệm và đầu tư, cán cân vãng lai phản ánh chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền kinh tế. CA= S - I S : Tiết kiệm trong nước I : Đầu tư trong nước Nếu chia tổng tiết kiệm (S) và đầu tư (I) của toàn bộ nền kinh tế thành các phần về khu vực chính phủ và tư nhân. Ta có: CA = (Sp+Sg) - (Ip+Ig) hay CA= (Sp-Ip) + (Sg-Ig) Công thức trên cho thấy cán cân vãng lai bằng chênh lệch của khu vực tư nhân cộng khu vực chính phủ. Vì vậy, khi đề ra các biện pháp, chính sách nhằm cải thiện cán cân vãng lai phải nghiên cứu tác động của chúng tới hành vi tiết kiệm và đầu tư.
5 Thứ ba: cán cân vãng lai được định nghĩa như chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu của nền kinh tế. CA = Y- A = Y- (C + I + G) Trong đó: Y: Thu nhập, A: Chi tiêu, C: Tiêu dùng tư nhân, I : Đầu tư tư nhân, G: Chi tiêu và đầu tư của chính phủ. Định nghĩa này được Alexander đưa ra vào năm 1950. Từ định nghĩa trên ta thấy, cán cân vãng lai của một nước chỉ có thể được cải thiện bằng sự tăng tương đối của thu nhập quốc dân so với chi tiêu hay sự giảm tương đối chi tiêu so với thu nhập quốc dân.
Thứ tư: khi công dân một nước cho vay hay mượn một lượng tiền của nước ngoài, họ đã tạo ra một quan hệ tài sản với phần còn lại của thế giới. Vì vậy, khi phân tích tiết kiệm và đầu tư, phải tính đến nguồn tài chính nước ngoài. Từ đó, có thể định nghĩa tài khoản vãng lai như những thay đổi trong tài sản nước ngoài ròng của quốc gia lập báo cáo với phần còn lại của thế giới. CA= B*t - Bt-1* B*t : Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn hiện tại.
Bt-1*: Tài sản nước ngoài ròng giai đoạn trước. Định nghĩa này được Sarch và Larrain mở rộng từ định nghĩa 2. Theo đó, các thay đổi tài sản nước ngoài ròng có thể bù đắp được tình trạng thâm hụt của tài khoản vãng lai. Như vậy: có thể định nghĩa tài khoản vãng lai là sự thay đổi vị thế đầu tư quốc tế ròng của một nước.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tiếp cận cán cân vãng lai trên cơ sở là tổng của chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M) cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài và chuyển khoản ròng từ nước ngoài và trên cơ sở cán cân vãng lai phản ánh chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền kinh tế theo định nghĩa thứ nhất và thứ hai ở trên.2 Ý nghĩa kinh tế của cán cân vãng lai Cán cân vãng lai là một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế của một nước, số dư cán cân vãng lai là số dư của tất cả các hạng mục trong cán cân vãng lai (cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập, chuyển giao vãng lai một chiều) và bằng tổng tất cả các khoản mục tài trợ cho cân bằng tài khoản vãng lai. Xét trên ý nghĩa kinh tế vĩ mô thì cán cân vãng lai phản ánh chênh lệch giữa tổng thu nhập quốc dân khả dụng (GNDI) và tổng chi tiêu (hấp thụ) của nền kinh tế, chênh lệch giữa sản xuất và tiêu dùng hay chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của một quốc gia. Điều này chứng tỏ rằng cán cân vãng lai có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố khác trong nền kinh tế. Những mối liên hệ này càng nhấn mạnh hơn tầm quan trọng của cán cân vãng lai với vai trò là trung tâm kết nối nền kinh tế trong nước với phần còn lại của thế giới.
Chính vì vậy, tình trạng của cán cân vãng lai có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia và là mục tiêu điều chỉnh của các quốc gia đang phát triển trên thế giới.3 Các khoản mục cơ bản của cán cân vãng lai 1.1Cán cân thương mại Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Cán cân thương mại còn được gọi là cán cân hữu hình (visible) bởi vì nó phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi từ nhập khẩu hàng hoá, mà các loại hàng hoá này lại có thể quan sát bằng mắt thường khi chuyển qua biên giới. Hạch toán cán cân thương mại là việc đối chiếu và so sánh các khoản thu từ xuất khẩu được phản ánh bên “Có” với dấu “+” và chi cho nhập khẩu hàng hoá ghi ở bên “Nợ” với dấu “-”. Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại.
Khi cán cân thương mại có thặng dư (khi thu từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhậu khẩu), xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. 7 Khi cán cân thương mại có thâm hụt (thu từ xuất khẩu nhỏ hơn chi cho nhập khẩu), xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Cán cân thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến cán cân thanh toán quốc tế đồng thời tác động trực tiếp đến cung, cầu, giá cả hàng hoá và sự biến động của tỷ giá, tiếp đến, sẽ tác động đến cả cung cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong nước.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng của cán cân thương mại: Tỷ giá, cơ cấu xuất nhập nhẩu hàng hóa, giá cả hàng hoá, thu nhập, chính sách thương mại quốc tế…và các yếu tố vĩ mô.2 Cán cân dịch vụ Bao gồm các khoản thu – chi về các hoạt động dịch vụ: vận tải, tài chính, viễn thông, y tế, giáo dục… và các dịch vụ khác. Các dịch vụ cung ứng cho người không cư trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ, được ghi vào bên “Có” với dấu “+” và ngược lại, các dịch vụ nhận cung ứng phát sinh cầu ngoại tệ sẽ ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”. Cán cân dịch vụ của các nước có quy mô và tỷ trọng trong tổng giá trị cán cân thanh toán quốc tế ngày càng tăng. Giá trị dịch vụ xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố bao gồm: Thu nhập, tỷ giá, giá cả dịch vụ,và các yếu tố về tâm lý, chính trị, xã hội.3 Cán cân thu nhập Phản ánh thu nhập ròng của người lao động hoặc thu nhập ròng từ hoạt động đầu tư.
- Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú hay ngược lại. - Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và không cư trú. 8 Các khoản thu nhập của người cư trú được trả bởi người không cư trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ nên được ghi vào bên “Có” với dấu “+”. Ngược lại các khoản chi trả cho người không cư trú sẽ làm phát sinh cầu ngoại tệ, sẽ được ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thu nhập bao gồm quy mô thu nhập (mức tiền lương, thưởng, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và lãi suất) và các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội 1.4 Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều Bao gồm những khoản viện trợ không hoàn lại, giá trị của những khoản quà tặng và các chuyển giao khác bằng tiền và hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa người cư trú và không cư trú: Phản ánh sự phân phối lại thu nhập. Các khoản thu (nhận) phát sinh cung ngoại tệ/cầu nội tệ nên được ghi vào bên “Có” với dấu “+”. Ngược lại, các khoản chi (cho) phát sinh cầu ngoại tệ/cung nội tệ nên được hạch toán vào bên “Nợ” với dấu “-”. Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế, tâm lý, tình cảm, chính trị - xã hội và ngoại giao giữa các nước.
Cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô hình (invisible). Cán cân vãng lai có thể biểu diễn như sau : Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình Như vậy, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm phát sinh cung ngoại tệ nên được ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên Nợ. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai 9 1.2 Thâm hụt cán cân vãng lai 1.1 Khái niệm và phân loại thâm hụt cán cân vãng lai Cán cân vãng lai được xem là thâm hụt khi các khoản ghi Nợ về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều lớn hơn các khoản ghi Có về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều. Theo định nghĩa 1 ở trên, cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế của một nước với phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao một chiều.