CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4. Một số khái niệm và mối liên quan đến cải cách thủ tục hành chính trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4. Khái niệm cải cách thủ tục hành chính Khái niệm cải cách hành chính Thuật ngữ "cải cách" là một thuật ngữ phổ biến, dùng để chỉ một quá trình, một hoạt động có ý thức, có mục đích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng tốt hơn hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới; cải cách ở đây mang nghĩa là những thay đổi có tính hệ thống và có mục đích giúp cho một hệ thống hoạt động tốt hơn. Điều đó phân biệt cải cách với những hoạt động khác cũng chỉ sự biến đổi như sáng kiến, thay đổi, phát chế hay phát minh.
Cải cách có thể diễn ra ở nhiều cấp độ, mức độ khác nhau; có những hoạt động cải cách mang tính chất cách mạng; có những cuộc cải cách chỉ là sự thay đổi ít nhiều so với ban đầu. Nói tóm lại, cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới,để đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan; cải cách là tập hợp của nhiều những cải tiến, sáng kiến và biến đổi. Với ý nghĩa đó, cải cách hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thuật ngữ “hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” tức là quản lý hay lãnh đạo.
Theo gốc từ Hán - Việt, thuật ngữ “hành chính” có nghĩa là sự thi hành những chính sách và pháp luật của Chính phủ. [1] [1] Đào Duy Anh, Giản yếu Hán – Việt từ điển (quyển thượng), Nxb Minh Tân, Paris, 1951, tr. 13 Như vậy, hành chính theo nghĩa chung là hoạt động quản lý bao quát của nhà nước với toàn xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc quản lý của cơ quan hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo tài liệu của Liên Hợp Quốc (1971) thì CCHC “là những cố gắng có chủ định nhằm đưa những thay đổi cơ bản vào hệ thống hành chính nhà nước thông qua các cải cách có hệ thống hoặc các phương thức để cải tiến ít nhất một trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính công”[2] Theo Bộ Nội vụ: “CCHC là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Tóm lại, CCHC là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn.
CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn so với trước.” Có thể thấy, CCHC là một trong những nội dung quan trọng của khoa học hành chính, có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao. Bên cạnh đó, mọi hoạt động CCHC đều hướng tới việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý cụ thể của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển. Căn cứ vào các đặc điểm, quan niệm và các cách tiếp cận về cải cách, hành chính cũng như cải cách hành chính đã làm rõ ở trên thì CCHC là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản lý các hệ thống. Như vậy, [2] Báo cáo Liên Hợp Quốc về Cải cách hành chính năm 1971 14 tác giả khóa luận đưa ra quan điểm cá nhân về thuật ngữ “cải cách hành chính” như sau: cải cách hành chính (CCHC) là những cố gắng có chủ định nhằm thực hiện hoạt động cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao chất lượng nền hành chính và phục vụ người dân tốt hơn.
Khái niệm thủ tục hành chính Theo Từ điển tiếng Việt, thủ tục là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước” [3].Mác, “thủ tục là hình thức sống của đạo luật, và luật vật chất có hình thức thủ tục riêng của nó.” TTHC tiếp cận từ các góc độ khác nhau. Theo quy định hiện hành được ghi nhận ngày 08/6/2010 được Chính phủ ban hành thông qua Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, “TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [4] Theo giáo trình Luật Hành chính, Khoa Luật-ĐHQG Hà Nội định nghĩa: “Thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động hành chính nhà nước nói chung, hoặc trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể [3] Nguyễn Như Ý(chủ biên), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb.Giáo dục, Hà [4] Nội,1995 Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ 15 trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.”[5] Khái niệm TTHC do Chính phủ đưa ra thông qua Nghị định số 63/2010 là quan điểm đến từ ngành khoa pháp lý nên thường được áp dụng ở khóa cạnh thực hiện quy phạm của luật vật chất. Theo đó, TTHC ở đây là trình tự và cách thức do luật hành chính quy định nhằm thực hiện mọi hình thức hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, tức là bao gồm không chỉ trình tự và cách thức thực hiện hoạt động ban hành các quyết định cá biệt, mà cả trình tự và cách thức thực hiện hoạt động sáng tạo pháp luật (ban hành quyết định QPPL và quyết định chủ đạo). Trong khi đó, quan điểm “thủ tục hành chính” trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Khoa Luật-ĐHQG Hà Nội lại mang ý nghĩa nội hàm rộng hơn, là thủ tục thực hiện mọi hoạt động hành chính nhà nước, bao hàm cả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chủ đạo.
Dựa trên những phân tích nêu trên, tác giả khóa luận đồng ý hoàn toàn với quan điểm đến từ giáo trình Luật Hành Chính Việt Nam của Khoa Luật- Đại học quốc gia Hà Nội. Bởi lẽ quan điểm về thủ tục hành chính này mang ý nghĩa bao quát và có phần hợp lý hơn. Tóm lại, “thủ tục hành chính là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động hành chính nhà nước nói chung, hoặc trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.” [5] Giáo trình Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr 15-16 16 Khái niệm cải cách thủ tục hành chính TTHC có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, tổ chức và chính cơ quan nhà nước. Một mặt, TTHC là công cụ để đảm bảo thực hiện các quyền được pháp luật quy định cho cá nhân, tổ chức.
Ngoài những quyền về chính trị, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền về hành chính, TTHC giúp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, ví dụ: thực hiện quyền như quyền đăng ký kinh doanh, khai sinh, khai tử, kết hôn; thực hiện nghĩa vụ như nghĩa vụ nộp thuế. Mặt khác, TTHC là phương tiện để đảm bảo hoạt động của cơ quan nhà nước được minh bạch, hợp pháp. Chính vì tầm quan trọng của TTHC như vậy, cho nên TTHC là một trong những nội dung quan trọng cần phải cải cách nếu muốn nâng cao chất lượng nền hành chính nước nhà. Chính vì vậy, cải cách TTHC trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương.
Đây được xác định là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình CCHC ở nước ta. Căn cứ vào Quyết định số 53/QĐ-BCĐCCHC Về việc ban hành kế hoạch hoạt động năm 2018 của Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ. Thuật ngữ “Cải cách TTHC” được hiểu là: “Tháo gỡ các cơ chế, chính sách, TTHC liên quan đến đất đai, nông nghiệp nông thôn, ứng dụng CNTT, khởi nghiệp, phát triển du lịch, tiếp cận tín dụng; bảo hiểm xã hội, chính sách đối với người có công; lý lịch tư pháp, hộ tịch… Tiếp tục cắt, giảm, đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành, điều kiện kinh doanh và chi phí cho doanh nghiệp”[6] Tóm lại,cải cách thủ tục hành chính là những cố gắng có chủ định nhằm thực hiện hoạt động cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ [6] Quyết định số 53/QĐ-BCĐCCHC Về việc ban hành kế hoạch hoạt động năm 2018 của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. 17 tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền,công dân và tổ chức của công dân nhằm phục vụ người dân tốt hơn và nâng cao chất lượng nền hành chính.
Sơ lược về Cách mạng công nghiệp 4.0 và quan niệm liên quan Nhìn lại lịch sử, con người đã chứng kiến 3 cuộc cách mạng khoa học vĩ đại về kỹ thuật của nhân loại: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra từ năm 1784 khi loài người phát minh động cơ hơi nước có khả năng sức thế sức lao động của con người, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra từ năm 1870 khi loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra từ năm 1969 khi loài người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã có manh nha từ khoảng 40 năm trước nhưng chỉ thực sự được biết đến từ những năm 2000 ở các nước phát triển trên thế giới. Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.