MỞ ĐẦU Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN, NGUYÊN NHÂN Chƣơng 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH. -8- CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Thủ tục, thủ thục hành chính, cải cách hành chính, sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính 2.1 Thủ tục Thủ tục là phƣơng thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt đƣợc kết quả mong muốn-trong hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc, thủ tục trƣớc hết đƣợc hiểu là những trình tự đƣợc quy định phải tuân theo khi thực hiện công việc9.2 Thủ tục hành chính TTHC là trình tự về thời gian và không gian các giai đoạn cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của các cơ quan quản lý HCNN, bao gồm trình tự thành lập các công sở; trình tự bổ nhiệm, điều động công chức, viên chức; trình tự lập quy, áp dụng các quy phạm để bảo đảm các quyền chủ thể và xử lý vi phạm; trình tự tổ chức-tác nghiệp hành chính. TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của các cơ quan HCNN có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan HCNN với các tổ chức và cá nhân công dân. Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt đƣợc mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan nhà nƣớc hoặc của các cá nhân, tổ chức đƣợc ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc10.3 Cải cách hành chính CCHC là một khái niệm đã đƣợc nhiều học giả, các nhà nghiên cứu hành chính trên thế giới đƣa ra, dựa trên các điều kiện về chế độ chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, cũng nhƣ phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu nghiên cứu, do đó hầu hết các định nghĩa này là khác nhau.
Tuy nhiên, có thể thấy các khái niệm về CCHC có một số điểm thống nhất sau: CCHC là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, đƣợc xác định bởi cơ 9, 10 Nguyễn Văn Thâm và đ.7-10) -9- quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, hiệu lực hơn. CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, có thể đƣợc đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau. Hƣớng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thể chế pháp lý, hoặc tài chính công v.4 Sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính Cải cách TTHC là điều kiện cần thiết để tăng cƣờng củng cố mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và nhân dân, tăng cƣờng sự tham gia quản lý Nhà nƣớc của nhân dân.
Cải cách TTHC đƣợc coi là khâu đột phá trong cải cách nền HCNN. Kết quả quá trình thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2001-2010 đã đƣợc đúc rút và thấy cần thiết phải đẩy mạnh công tác cải cách TTHC nên đã đƣa ra nhiệm vụ này thành một trong 6 nội dung của Chƣơng trình tổng thể CCHC nhà nƣớc giai đoạn 2011-2020. Cải cách TTHC là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần thiết trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập của nƣớc ta. Những yêu cầu của quá trình cải cách TTHC trong giai đoạn hiện nay của nƣớc ta là: phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống TTHC.
Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống TTHC. Bảo đảm tính hợp lý của TTHC, bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các TTHC đã ban hành. Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các TTHC, dễ hiểu, dễ tiếp cận, có tính khả thi. Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình TTHC12.
Ngoài ra, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, dƣới sức ép của cải cách thể chế, cải cách TTHC còn góp phần duy trì và cải thiện môi trƣờng kinh doanh, môi trƣờng đầu tƣ của Việt Nam.2 Cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông”, các nguyên tắc thực hiện 2.1 Cơ chế “một cửa” Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan HCNN, từ hƣớng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả 11 Vụ Cải cách hành chính-Bộ Nội vụ (2005) 12 Sở Tƣ pháp An Giang (2013) -10- kết quả đƣợc thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan HCNN13.2 Cơ chế “một cửa liên thông” Cơ chế “một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan HCNN cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hƣớng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả đƣợc thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan HCNN14. Ví dụ: liên quan đến cấp mã số doanh nghiệp, có sự tham gia của ba cơ quan, trong đó cơ quan thuế, cơ quan đăng ký doanh nghiệp và bộ phận quản lý TTHC quản lý và đăng ký mẫu dấu của Công an đƣợc tổ chức tại một địa điểm tiện lợi cho ngƣời dân, đƣợc gọi là “Bộ phận một cửa liên thông”.3 Các nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” TTHC đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật. Công khai các TTHC, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân. Nhận yêu cầu và trả kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cá nhân. Đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận, cơ quan HCNN để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân15.3 Cơ sở lý thuyết về phân cấp quản lý nhà nƣớc Theo xu hƣớng phi tập trung hóa, việc phân cấp quản lý nhà nƣớc ngày càng đƣợc thực hiện rộng rãi hơn để chính quyền địa phƣơng phát huy tác dụng của mình 16. Chính quyền Trung ƣơng không còn giữ vai trò truyền thống nhƣ ngƣời ra quyết định và thực hiện quyết định mà trở thành “ngƣời định hƣớng và xác lập cuộc chơi” 17. Hiện nay, phi tập trung hóa đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực trong quản lý nhà nƣớc, là điều quan trọng đối với ổn định chính trị, cung cấp dịch vụ có hiệu quả, giảm đói nghèo và bình đẳng.
13, 14, 15 Thủ tƣớng Chính phủ (2007, tr.1-2) 16 World Bank (2005) 17 Vũ Thành Tự Anh (2013) -11- Phi tập trung là việc chuyển khối lƣợng công việc hành chính từ các quan chức chính quyền trung ƣơng ở thủ đô cho các nhân viên dƣới quyền ở các vùng, tỉnh, hoặc các quận-điều này làm giảm khối lƣợng công việc ở trung ƣơng và làm cho chính quyền gần gũi hơn với ngƣời dân, nên phi tập trung có thể đƣợc xem là bƣớc đầu của việc phi tập trung hóa. Ở cấp độ cao hơn của phi tập trung là ủy quyền. Những cơ quan đƣợc ủy thác quyền lực (i) có khả năng hành chính và kỹ thuật để thực hiện các chức năng có tính chuyên môn; (ii) có thể đƣợc miễn không áp dụng một số quy định của chính quyền trung ƣơng về vấn đề nhân sự; (iii) có thể tính phí dịch vụ trực tiếp đối với ngƣời sử dụng; và (iv) có thẩm quyền rộng rãi trong việc lập kế hoạch và thực hiện các quyết định mà không có sự giám sát trực tiếp của các bộ ở trung ƣơng (mặc dù các bộ này chịu trách nhiệm với chính phủ). Trao quyền là cấp độ cao nhất của tính độc lập trong việc ra quyết định và bao gồm việc nhƣờng lại một số chức năng nhất định cho các chính quyền cấp dƣới18.
Cần phải có các nguyên tắc để làm cơ sở cho việc phân cấp, mà những nguyên tắc chính đáng lƣu ý là: Chính quyền gần dân nhất nên thực hiện các dịch vụ công mang tính dân sinh. Chỉ khi cấp đó không thể làm đƣợc hoặc có lý do thuyết phục mới trao quyền cho cấp cao hơn. Nơi nào có đầy đủ thông tin nhất để giải quyết vấn đề thì quyền quyết định nên trao cho nơi ấy. Trao quyền hay ủy quyền từ trung ƣơng xuống cho chính quyền địa phƣơng phải căn cứ vào khả năng thực tế, quyền lực phải đƣợc trao cho cấp có đủ năng lực thực thi.
Trao quyền một cách phù hợp có thể tạo ra cạnh tranh giữa các địa phƣơng, có thể tạo ra những chính quyền địa phƣơng phản ứng kịp thời với những quan tâm của cƣ dân địa phƣơng19. Phân cấp quản lý nhà nƣớc giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh, giữa chính quyền địa phƣơng các cấp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng trên cơ sở phân định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền nhà nƣớc, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của Chính phủ20. Tuy nhiên, để hạn chế đƣợc những rủi ro trong quá trình thực thi phân cấp (nhƣ sự thao túng và các hoạt động phục vụ lợi ích riêng của những ngƣời có chức quyền) thì đồng thời với việc th a mãn những yêu cầu về nguyên tắc của phân cấp trao quyền, trong quá 18 Chiavo-Campo và Sundaram (2003) 19 Phạm Duy Nghĩa (2012) 20 Chính phủ (2004, tr.2) -12- trình thực thi cần phải có cơ chế để kiểm soát, trong đó đòi h i cần thiết phải có sự tham gia của ngƣời dân, doanh nghiệp, đảm bảo tính công khai minh bạch, tăng trách nhiệm giải trình, tăng tính tuân thủ pháp luật, tăng hiệu quả ban hành các chính sách và thực thi các chính sách của chính quyền21.4 Tính minh bạch trong hoạt động hành chính công Những thông tin phù hợp đƣợc cung cấp kịp thời cho ngƣời dân dƣới hình thức dễ sử dụng, và đồng thời, các quy định và quyết định của chính phủ phải rõ ràng và đƣợc phổ biến đầy đủ. Tính minh bạch là điều kiện tiên quyết để có trách nhiệm thực sự và giúp nâng cao khả năng dự báo.