Cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước với mục tiêu chính sách tài khóa ở Việt Nam

Khám phá cuộc đời và sự nghiệp của La Hoàng Xuân Nam, một nhân vật nổi bật trong văn hóa và nghệ thuật Việt Nam. Tìm hiểu những đóng góp của ông.

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

196
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam. Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách nhằm cải cách hệ thống ngân sách, trong đó có việc cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước. Mục tiêu chính của cải cách này là nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, đảm bảo công bằng trong phân bổ nguồn lực và đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng các chính sách và công cụ để phân phối và sử dụng quỹ ngân sách một cách hiệu quả. Vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước không chỉ là đảm bảo tính minh bạch mà còn là công cụ quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách tài khóa.

1.2. Lịch sử cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Quá trình cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1986, với nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn đều có những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả chi tiêu công, từ việc ban hành Luật Ngân sách nhà nước đến việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại.

II. Những thách thức trong cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như sự chồng chéo trong phân bổ ngân sách, thiếu minh bạch trong quản lý và tình trạng nợ công gia tăng đang đặt ra nhiều khó khăn cho chính phủ.

2.1. Vấn đề chồng chéo trong phân bổ ngân sách

Chồng chéo trong phân bổ ngân sách là một trong những vấn đề nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực. Việc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc lập kế hoạch và phân bổ ngân sách đã gây ra nhiều khó khăn trong quản lý.

2.2. Thiếu minh bạch trong quản lý chi ngân sách

Thiếu minh bạch trong quản lý chi ngân sách nhà nước đã làm giảm niềm tin của người dân vào chính phủ. Việc công khai thông tin về chi tiêu ngân sách chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng nghi ngờ và thiếu trách nhiệm trong quản lý.

III. Phương pháp cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước hiệu quả

Để cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và phù hợp với thực tiễn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách, cải cách quy trình lập ngân sách và tăng cường giám sát là những giải pháp quan trọng.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách. Việc áp dụng các hệ thống thông tin quản lý ngân sách sẽ giúp cải thiện tính minh bạch và hiệu quả trong việc theo dõi và kiểm soát chi tiêu.

3.2. Cải cách quy trình lập ngân sách

Cải cách quy trình lập ngân sách cần được thực hiện theo hướng tăng cường sự tham gia của các bên liên quan. Việc này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn đảm bảo rằng ngân sách được phân bổ hợp lý và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về cải cách quản lý chi ngân sách

Nghiên cứu về cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các chính sách cải cách đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, đồng thời giảm thiểu tình trạng nợ công. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững.

4.1. Kết quả đạt được từ cải cách quản lý chi ngân sách

Cải cách quản lý chi ngân sách đã mang lại nhiều kết quả tích cực, như giảm thiểu tình trạng lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Các chương trình chi tiêu công đã được thực hiện một cách có hiệu quả hơn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các nước khác

Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm cải cách quản lý chi ngân sách của các nước khác. Việc áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và tăng cường minh bạch trong quản lý ngân sách là những bài học quý giá cho Việt Nam.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho cải cách quản lý chi ngân sách

Cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước là một quá trình liên tục và cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho Việt Nam. Trong tương lai, cần tiếp tục cải cách theo hướng hiện đại hóa và tăng cường tính minh bạch trong quản lý ngân sách.

5.1. Tầm quan trọng của cải cách trong tương lai

Cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững. Việc cải cách này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển.

5.2. Đề xuất các giải pháp cải cách trong tương lai

Các giải pháp cải cách cần tập trung vào việc nâng cao tính minh bạch, cải thiện quy trình lập ngân sách và ứng dụng công nghệ thông tin. Những giải pháp này sẽ giúp cải thiện hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước trong thời gian tới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước với việc thực hiện mục tiêu chính sách tài khóa. Chương 3: Thực trạng cải cách quản lý chi ngân sách nhà nước với việc thực hiện các mục tiêu chính sách tài khóa ở Việt Nam. Chương 4: Một số khuyến nghị nhằm tiếp tục cải cách quản lý chi NSNN nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu chính sách tài khóa ở Việt Nam thời gian tới.

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, NSNN nói chung, chi NSNN nói riêng ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng không những trong phân phối thu nhập quốc dân, trong giải quyết hàng loạt các vấn đề xã hội phát sinh trong thực tiễn mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Thực tế đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quản lý NSNN nói chung, quản lý chi NSNN nói riêng được công bố bởi các tổ chức, học giả ở nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Nói chung, các nghiên cứu về quản lý NSNN và quản lý chi NSNN có thể được chia thành các nhóm sau: 1.1 Các công trình nghiên cứu lý thuyết về quản lý ngân sách nhà nước và cải cách quản lý ngân sách nhà nước * Các nghiên cứu về tài chính công có đề cập đến chi NSNN Tài chính công được hiểu là tài chính của nhà nước ở trung ương, các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp ở trung ương và địa phương, phản ánh các quan hệ kinh tế - tiền tệ phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của các “chủ thể công” nhằm phục vụ các hoạt động vì lợi ích cộng đồng.

Tài chính công bao gồm hệ thống NSNN, hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội, hệ thống các đơn vị quản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp công cung cấp các dịch vụ công và các quỹ tài chính phục vụ lợi ích cộng đồng mang tính chất vô vị lợi (Bộ KHĐT và UNDP, 2007). Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý tài chính công trong đó có đề cập đến vấn đề chi NSNN bởi quản lý tài chính công giải quyết các vấn đề về thu thuế và chi tiêu của chính phủ, trong đó phần chi tiêu bao gồm từ khâu chuẩn bị ngân sách, cho đến các biện pháp kế toán, kiểm soát, kiểm toán nội bộ và kiểm toán từ bên ngoài, chế độ báo cáo và kiểm tra, thanh tra (Rosen, 2002, dẫn theo Clay G. Wescott và cộng sự, 2009). Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, những bất ổn xảy ra là điều khó tránh khỏi, sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết và tất yếu.

Tài chính công là công cụ chủ yếu được các chính phủ sử dụng để điều chỉnh các quan hệ nhằm đạt tới các mục đích khác nhau trong quá trình thực hiện quản lý kinh tế - xã hội. Theo lý thuyết 6 kinh tế học hiện đại, trong nhiều thập kỷ qua, nhiều nhà kinh tế cho rằng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách là “liều thuốc thần diệu” đối với tăng trưởng kinh tế. Với quan điểm này thì khi các chính phủ cắt giảm chi tiêu sẽ giúp NSNN thoát khỏi tình trạng bị thâm hụt từ đó làm giảm lãi suất, tăng đầu tư xã hội tạo động lực để thúc đẩy tăng trưởng. Theo Mai Trang (2018) thì “lập luận này là có cơ sở và chính sách tài khóa nên tập trung giải quyết vấn đề thâm hụt nếu mối quan hệ giữa các biến số trên là chặt chẽ.

Hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng có những trường hợp nhất định việc cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cũng có những trường hợp tăng chi tiêu chính phủ là có lợi cho tăng trưởng. Trong khi các lý thuyết về thất bại của thị trường đã dẫn tới việc hình thành các chương trình chi tiêu lớn của chính phủ trong khuôn khổ chính sách tài khóa trong những năm 1930 và 1960, trong thập kỷ 1970 và 1980 những nhược điểm của các chương trình chi tiêu của chính phủ bắt đầu xuất hiện, buộc các nhà kinh tế và chính trị học phải nghiên cứu tìm hiểu các thất bại của chính phủ”. Như vậy có thể khẳng định rằng thị trường hay thất bại và trong thực tiễn các chính sách do chính phủ đưa ra nhằm khắc phục các thất bại của thị trường cũng không phải lúc nào cũng thành công. Những nguyên nhân chủ yếu đó là: “Thông tin hạn chế, khả năng kiểm soát hạn chế đối với khu vực tư nhân, quan liêu, hạn chế của quá trình hiệp thương chính trị dẫn đến việc chậm ban hành và thực thi chính sách”.

Michel Bouvier (2005) đề cập đến những vấn đề lý luận căn bản về tài chính công, về vai trò của tài chính công trong việc ổn định kinh tế - xã hội,., đồng thời còn nêu rõ rằng chi NSNN là một trong những nguyên nhân quyết định đối với tình trạng nợ công của mỗi quốc gia. Hyman (2010) đưa ra cách tiếp cận mới với mục tiêu thực hiện tài chính công bền vững, đồng thời phân tích và chỉ rõ vai trò bàn tay hữu hình của chính phủ trong nền kinh tế thông qua những quyết định đối với khu vực công, các vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Quản lý tài chính công là một nội dung của quản lý xã hội nói chung. Chủ thể quản lý tài chính công là nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức được nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ tạo lập và sử dụng các quỹ công của nhà nước.

Đồng thời, đối tượng của quản lý tài chính công là toàn bộ các hoạt động liên quan đến thu, chi bằng tiền của nhà nước, hay nói khác đi đó là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính công, đây được coi là nội dung chủ yếu của quản lý tài chính công. Để đạt được các mục tiêu đã định, công tác quản lý tài chính công một mặt phải tác động vào môi trường kinh tế - xã hội, mặt khác phải tác động vào các hoạt động của con người được giao trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính công để đảm bảo các hoạt động tài chính công phù hợp với các yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội và ý muốn chủ quan của nhà 7 nước (Trần Văn Giao, 2008). Quản lý tài chính công không những phải quản lý nguồn lực tài chính đang tồn tại dưới dạng tiền tệ và dưới dạng tài sản mà các “chủ thể công” phải thực hiện quản lý sự vận động của cả nguồn lực tài chính công trên giác độ giá trị và giá trị sử dụng, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giữa giá trị và giá trị sử dụng (Bộ KHĐT và UNDP, 2007). Yêu cầu cải cách quản lý tài chính công luôn luôn là vấn đề quan tâm của mọi chính phủ, một mặt phục vụ cho mục tiêu giảm tình trạng thâm hụt NSNN thông qua việc cắt giảm chi tiêu công, mặt khác nhằm nâng cao kết quả hoạt động của chính phủ bằng cách tăng cường tính hiệu quả và chất lượng các dịch vụ công.

Tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà chính phủ quyết định các nội dung, quy mô và phạm vi thực hiện cải cách quản lý tài chính công. Các quá trình này đều có mục tiêu, đặc điểm chung đó là vừa để tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương vừa tạo sự chủ động và linh hoạt cho các đơn vị sử dụng ngân sách trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong sử dụng các nguồn tài chính được giao (bao gồm cả phân phối lại trong nội bộ) đảm bảo sát với thực tế tại đơn vị. Kế hoạch cải cách được xây dựng dựa trên các lý thuyết, nguyên tắc về sự lựa chọn công, về hệ thống thể chế chính sách, sự hợp tác công tư đã được công bố bởi các tổ chức quốc tế như OECD (1995), OECD/Ngân hàng Thế giới (2003), hay các tác giả Pollitt & Bouckaert (2004), Diamond & Khemani (2006), Brumby (1999), Rubin & Kelly (2005),… (dẫn theo Clay G. Wescott và cộng sự, 2009).

Trong thực hiện cải cách quản lý tài chính công, các quốc gia đều phải đối mặt với các khó khăn, thách thức và phải tìm cách để vượt qua để thực hiện cải cách. Brumby & Dressel (2008, dẫn theo Clay G. Wescott và cộng sự, 2009) cho rằng “những vấn đề về năng lực là những thách thức đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong việc ứng dụng những biện pháp thực hành có tính kỹ thuật cao về kinh tế vĩ mô, ngân sách, kế toán, kiểm toán, mua sắm và công nghệ thông tin, truyền thông những yếu tố then chốt trong cải cách quản lý tài chính công. Những biện pháp thực hành này có thể xuất phát từ các khía cạnh của các quy trình lãnh đạo và các giá trị, năng lực và hoạt động của con người, năng lực công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, và các quy trình chất lượng”.

Còn theo Vagnoni (2005, dẫn theo Clay G. Wescott và cộng sự, 2009) thì “với Lít-va, Ru-ma-ni và Bun-ga-ri, các hệ thống kiểm soát, các chỉ số về kết quả hoạt động, và những công cụ hiện đại khác đều đã được đưa vào áp dụng nhằm đáp ứng các tiêu chí gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, thời gian đầu những công cụ này vẫn chưa được thực thi đầy đủ, các hệ thống báo cáo không đo lường các chi phí của các hoạt động, hoặc mối liên hệ giữa nguồn lực và mục tiêu, và chỉ có tác dụng làm cơ sở cho một 8 báo cáo tài chính tiền mặt. Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ công chức làm việc trong các cơ quan chính phủ cũng là những thách thức”.

Strassman (1994, dẫn theo Clay G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ