LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, với những chính sách mở cửa và hội nhập các ngành kinh tế trong nước ngày càng có nhiều cơ hội cũng như những thách thức để trưởng thành hơn. Một câu hởi đặt ra: “ Làm như thế nào có nhiều cơ hội với lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng nhiều và phong phú để tạo ra nhiều lợi nhuận.” Để trả lời cho câu hỏi này, thì nhóm 1 sẽ phân tích quản trị tài chính của doanh nghiệp. Lý do chọn đề tài: Một doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ngày nay muốn phát triển bền vững và cạnh tranh lành mạnh, trước hết phải có được cơ cấu tài chính phù hợp. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiên hành công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này để trên cơ sở đó định hướng cho các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Vì vạy nhóm lựa chọn đề tài “ Phân tích tình hình tài chính công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà và so sánh với công ty Cổ phần Bánh kẹo Kinh Đô” nhằm xác định tầm quan trọng của việc phân tích tài chính. Mục đích nghiên cứu: Vận dụng những lý luận về phân tích tình hình tài chính nhằm thấy rõ xu hướng, tốc độ tăng trưởng và thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp giúp cải thiện tình hình tài chính để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Phương pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu báo cáo và tài liệu liên quan của công ty… Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu và đánh giá số liệu về số tuyệt đối và số tương đối.
Từ đó, đưa ra nhận xét về thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Thông tin, số liệu, các chỉ tiêu thể hiện tình hình tài chính được tổng hợp trên báo cáo tài chính của công ty bánh kẹo Hải Hà và Kinh Đô. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về tình hình tài chính của công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà và công ty Cổ phần Bánh kẹo Kinh Đô năm 2017 và năm 2018.1 doanh thu của công ty Hải Hà năm 2017 và năm 2018 Năm 2018 Năm 2017 Giá Giá bán bán chư chư Tổn a a Số Số Tổng Tỷ g thuế thu lư lượn doanh trọn doa ế ợn g thu g nh (triệ (tri g thu u ệu đồn đồn g) g) Sản Sản 0. phẩ 5,98 4 % 3 0,0 8 00 00 m8 0 00 Sản Sản 0.21 Dịch 1 12,11 12,110 1 9,0 9,07 vụ % vụ 0 .253 giảm 90466 022 trừ Doan 8579 h thu 982,29 84.
1 doanh thu của công ty Hải Hà năm 2017 và năm 2018 Nhận xét: - Sự biến động về giá bán năm 2018 so với năm 2017 là không đáng kể, thậm chí có những sản phẩm không thay đổi mức giá như sản phẩm 1 3 4 5 9 12 14 15 16 17 19 21 và dịch vụ vẫn giữu mức giá là 1 (chưa thuế). Điều này cho thấy giá trị tiền lưu thông không bị lao dốc, có xu hướng ổn định, thị trường hàng hóa của doanh nghiệp không phải chịu tác động mạnh mẽ. Đây có thể coi là tín hiệu tích cực trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên xét về lâu dài, mức giá các sản phẩm, dịch vụ luôn không đổi lại là vấn đề cần xem xét.
- Tuy nhiên số lượng bán ra của từng sản phẩm lại thay đổi rõ: + Năm 2017: Sản phẩm 11 có lượng bán ra cao nhất (2150000). Sản phẩm 1 có lượng bán ra thấp nhất (10000) + Năm 2018: Sản phẩm 5 có lượng bán ra cao nhất (2858000). SP 1 tiếp tục có lượng bán ra thấp nhất (10100), đã tăng 100 so với năm 2017 + Dịch vụ tăng 3035,4651 (tăng 33,45% so với năm 2017) từ 9074,767 lên 12110,2321 => Sản phẩm 11 không còn chiếm ưu thế cao nhất trong năm 2018, thay vào đó là sự tăng lên mạnh mẽ của sản phẩm 5, thậm chí sản phẩm 5 còn có lượng bán ra năm 2018 nhiều hơn sản phẩm 11 năm 2017. Điều đó cho thấy xu hướng tiêu dùng đang hướng tới sản phẩm 5 và sản phẩm 11 đang giảm dần ưu thế trên thị trường.
Sản phẩm 1 năm 2018 đã tăng lên, tuy nhiêu mức tăng này vẫn rất thấp. Cho thấy đây là thị trường yếu, trống của doanh nghiệp - Nhìn chung tổng doanh thu có xu hướng tăng: (tăng 15,38% so với năm 2017) từ 867365,55 lên 1000798,83 + Năm 2017: sản phẩm 19 có doanh thu lớn nhất (239529). Sản phẩm 1 có doanh thu nhỏ nhất (200). + Năm 2018: sản phẩm 19 tiếp tục có doanh thu lớn nhất (210000).
Sản phẩm 1 tiếp tục có doanh thu nhỏ nhất (202) + Đặc biệt tổng doanh thu của dịch vụ biến động mạnh: tăng 91724,063 (Từ 9074,767 lên mức 1000798,83) 18 => Điều này hoàn toàn hợp lý do sản phẩm 1 luôn chiếm tỷ lệ thấp nhất và lượng bán ra cũng như mức giá là thấp nhất trong cơ cấu sản phẩm và dịch vụ. Còn sản phẩm 19, tại năm 2018 tiếp tục có doanh thu lớn nhất. Tuy nhiên lượng doanh thu này đã giảm so với năm 2017, giảm 29529 so với năm 2017 (giảm 12,33%). Cho thấy sản phẩm này vẫn chiếm ưu thế trong thị trường, nhưng ưu thế này đang giảm.
Trong khi giá bán sản phẩm 19 năm 2018 vẫn giữ mức 0,3 triệu như năm 2017 mà lượng tiêu thụ lại suy giảm. Bên cạnh đó là sự tăng lượng bán của sản phẩm 11. Cho thấy thị trường thực sự đang dịch chuyển xu hướng tiêu dùng, những sản phẩm không phù hợp, không nổi trội sẽ bị giảm ưu thế dần, sản phẩm đáp ứng được yêu cầu sẽ phát triển. Sự tăng lên mạnh mẽ của dịch vụ là tín hiệu cho thấy cần có sự quan tâm, đầu tư đúng mức hơn nữa lĩnh vực này vì trong tương lai dịch vụ thực sự là xu thế chung toàn cầu.
Cơ cấu tỷ trọng của từng sản phẩm, dịch vụ trong tổng doanh thu không có sự thay đổi mạnh. Đa số tỷ trọng các sản phẩm là giảm so với năm 2017, chỉ có dịch vụ và một số ngành thu hút, sản phẩm có số lượng lớn hơn cả là có tỷ trọng tăng + Năm 2017: sản phẩm 19 có trọng lớn nhất (27,62%). Sản phẩm 1 có tỷ trọng nhỏ nhất (0,02%). Năm 2018: sản phẩm 19 có trọng lón nhất (20.
Sản phẩm 1 có tỷ trọng nhỏ nhất (0,02%). Mức thay đổi tỉ trọng không đáng kể + Chênh lệch tỷ trọng các sản phẩm so với năm 2017 ở khoảng 0,2-0,54, riêng có sản phẩm 19 là giảm 6,63% và sản phẩm 21 tăng 1,45%. Cho thấy ưu thế sản phẩm 19 đang giảm mạnh, các sản phẩm khác đang thay thế và phát triển hơn Chênh lệch doanh thu năm 2018 và năm 2017 là 133433,29 tỷ đồng. + Trong đó sản phẩm 21 có doanh thu biến động mạnh nhất (tăng 32000 so với năm 2017) + Sản phẩm 19 có doanh thu tăng kém nhất (giảm 29529 so với năm 2017) và cũng là sản phẩm có doanh thu tăng mạnh nhất.
+ Dịch vụ có mức doanh thu tăng 3035,465148 với năm 2017 =>Từ những điều trên ta có thể rút ra: Gía bán không biến động mạnh nhưng số lượng sản phẩm và doanh thu lại thay đổi, thậm chí thay đổi mạnh. Khi doanh thu thay đổi thì cơ cấu doanh thu và tỷ trọng của sản phẩm, dịch vụ cũng thay đổi. Gía bán không phải là yếu tố duy nhất tác động đến doanh thu, tỷ trọng. Ngoài giá bán ra còn các yếu tố khác tác động.
Do vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu, tìm hiểu để đạt mục tiêu lợi nhuận, tối đa hóa giá trị. Cần lưu ý tới những sản phẩm có tỷ trọng giảm, số lượng giảm hoặc tăng độtbiến để có chiến lược phát triển phù hợp, đồng thời nhận ra sản phẩm nào đang có độ “hot”, phù hợp xu hướng thị trường 18 bảng 1. Bảng phân tích cấu trúc doanh thu và chi phí của công ty Hải Hà năm 2017 và năm 2018 Bảng 2. Bảng phân tích cấu trúc doanh thu và chi phí của công ty Hải Hà năm 2017 và năm 2018 Năm 2018 Năm 2017 Tăng/giảm năm 2018 so với 2017 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng 1,000,798.
2Bảng phân tích cấu trúc doanh thu và chi phí của công ty Hải Hà năm 2017 và năm 2018 Về doanh thu: + Tổng doanh thu bán hàng của năm 2018 tăng so với năm 2017, cụ thể tăng 124,309 triệu đồng. Năm 2018, doanh thu bán hàng và cung ứng dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất là 98,12% trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp. Đóng góp giá trị lớn nhất trong cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp là 1,001,092. + Tổng doanh thu hoạt động tài chính của năm 2018 tăng so với năm 2017, cụ thể tăng 13,408 triệu đồng.
Hoạt động tài chính cũng là một hoạt động mà doanh nghiệp đang thực hiện mang lại cho doanh nghiệp 17,253.23 đồng chiếm 1,72% doanh thu có được trong kỳ. Nhận xét sự biến động về doanh thu của doanh nghiệp năm 2018 so với năm 2017: + Tất cả các hoạt động bán hàng và cung ứng dịch vụ, tài chính và hoạt động khác đều có phần tăng thêm từ 2017 so với 2018. Tổng doanh thu năm 2018 tăng 138. Việc doanh thu tăng là do doanh thu các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu tài chính và doanh thu khác đều tăng.
Cụ thể: + Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất. Đây là 1 nguồn doanh thu “nuôi sống” doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy doanh nghiệp ngày càng có những bước đi vững hơn trên thương trường, cụ thể doanh nghiệp đã phát huy rất tốt trong việc kết hợp linh hoạt giữa tăng số lượng và chất lượng sản phẩm. Đồng thời không làm giảm đi nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Đây là 1 chỉ tiêu đáng ghi nhận và cần được phát huy nhiều hơn nữa trong thời gian tới. Cùng với sự phát huy đó, doanh nghiệp tiếp tục trang bị về thiết bị sản xuất, công tác quảng cáo sản phẩm và chăm sóc khách hàng để đạt được doanh thu cao nhất. + Doanh thu tài chính và doanh thu khác cũng đem lại 1 nguồn thu cho doanh nghiệp nhưng nó chiếm tỉ trọng không lớn. 18 Về Chi phí: + Tổng chi phí bán hàng của năm 2018 tăng so với năm 2017.
Trong cơ cấu chi phí bán hàng năm 2018 thì giá vốn hàng bán chiếm tỉ trọng lớn nhất với 78,96% và chi phí khác chiếm tỷ trọng thấp nhất.