Chương 1: LỊCH SỬ KỊCH NGA NGỌN NGUỒN CỦA KỊCH CHEKHOV 1. Kịch Nga trước Chekhov 1. Vài nét về nguồn gốc kịch Nga Trước thế kỉ XVII, kịch Nga vẫn chưa hình thành, vẫn chưa tách rời các thể loại khác thành một lĩnh vực độc lập mà còn nằm lẫn giữa các loại hình nghệ thuật dân gian.Likhachev[10] lí giải sở dĩ như vậy “ không phải vì bị tính chất nhà thờ bóp nghẹt mà là vì trong lĩnh vực này văn học dân gian không chụi nhường bước” [27, tr. Giống như trường hợp với nhiều nước châu Âu, kịch Nga khởi nguồn từ các kịch tôn giáo (mysteries).
Ban đầu nó gắn với các nghi lễ đa thần giáo, sau được các giáo dân Thiên Chúa tiếp nhận để chuyển tải những đề tài từ kinh sách nhà thờ, chủ yếu là các tích lấy từ Kinh Thánh. Dần dần những màn kịch tôn giáo này được những nghệ nhân trung đại (các skomorokhi, kaliki perekhojie) đi rong khắp đất Nga, vừa đàn, hát, vừa nhảy múa biểu diễn…Và mặc dù lấy đề tài từ kinh sách nhà thờ, nhưng những vở kịch được trình bày dưới dạng thông tục, bóp méo, vì vậy các nghệ sĩ hát rong đã bị giáo hội và các boya[11] buộc tội bất kính, phản Chúa. Dưới thời vua Alexei Mikhailovich, các skomorokhi thường bị truy đuổi, bị trục xuất đến các vùng biên giới xa xôi, còn người nông nô nào “nhớ những ca khúc của họ thì bị xử đánh roi không thương tiếc”[15, tr. Ngoài hình thức kịch tôn giáo đó, kịch Nga còn bắt nguồn từ các trò chơi giải trí dân gian.
Trong các hội chợ ở nông thôn người ta điều khiển các con rối chuyển động trong một gian hàng (gọi là "Vertep") và mở cửa cho khách du lịch xem tại hội chợ Giáng sinh. Các màn kịch rối, kịch hề này thường mang nội dung phê phán, tố cáo xã hội khá sâu sắc vì vậy cũng bị cấm trình diễn. Tuy nhiên, thực tế loại hình kịch này vẫn phát triển mạnh ở Nga vào giữa thế kỷ XVII.Likhachev (1906-1999) là nhà văn hóa lớn của Nga thế kỉ XX, được đánh giá ngang tầm với M.Bakhtin, đỉnh cao ở lĩnh vực lịch sử văn học. [11] Đại quí tộc phụ tá của Sa hoàng.
Nói chung, đến thế kỷ XVII, trình diễn sân khấu vẫn bị coi là “hành động tội lỗi”, là sinh hoạt thuộc tầng lớp dưới trong xã hội. Đến thời vua Alexei Mikhailovich (cha của Pyotr Đại đế, trị vì từ 1645 đến 1676), tình hình có khác hơn, do ông vua này không thù địch với sân khấu. Lần đầu tiên kịch được diễn trong cung đình của nhà vua và công chúa Sofia - con gái của Alexei - là người phụ nữ đầu tiên xuất hiện trên sân khấu, phá bỏ thói quen nghiêm ngặt trước đây là kịch chỉ dành cho nam giới. Tuy nhiên, sau cái chết của Alexei, nhà hát bị đóng cửa, sân khấu kịch tạm thời lắng đọng.
Sự khởi sắc của kịch Nga chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỷ XVIII, từ thời đại của vị vua cải cách Pyotr Đại đế. Năm 1721, một sắc lệnh được ban hành buộc tất cả học sinh trong các chủng viện Nga phải diễn kịch hai lần trong năm. Hấp dẫn người xem hơn cả những vở kịch mang tính tính hài hước tự nhiên. Từ đề tài tôn giáo dần dần kịch mở rộng đề tài ra đời sống xã hội, nhiều vở kịch chuyển thể từ nước ngoài (đặc biệt là những vở kịch của Molier và Racine) được trình diễn trên sân khấu.
Các nghiên cứu về văn học trong các trường công cũng khởi sắc trong thời gian này. Tại trường thiếu sinh quân của St. Petersburg, học sinh hình thành một xã hội văn học, nơi đó họ có thể đọc và diễn kịch trên sân khấu. Một trong số họ đã trở thành nhà soạn kịch, người sáng lập ra nền kịch cổ điển (Néo-classicism) của Nga, tên ông là Alexander Sumarokov (1717-1777).
Ông cũng là người thành lập nhà hát quốc gia đầu tiên tại St. Phần lớn dựa vào các mô hình kịch cổ điển của các nhà viết kịch Châu Âu như Shakespeare, Racine, Voltaire…, các vở kịch của Sumarokov cũng tuân thủ nguyên tắc “Tam duy nhất”: thống nhất thời gian, không gian và hành động kịch. Tuy vậy, khác với các bi kịch cổ điển phương Tây thường mượn những câu chuyện trong sử thi, lịch sử ngoài nước làm chất liệu sáng tác (Racine dựa vào các câu chuyện trong sử thi Hy Lạp, La mã viết các vở Andromac, Edipe làm vua), kịch của Sumarokov lấy nội dung từ các câu chuyện trong lịch sử, truyền thuyết Nga. Những lời nói, hành động của nhân vật anh hùng trong kịch của Sumarokov cũng mang đậm chất Nga nên rất gần gũi với khán giả.
Tiêu biểu cho những vở kịch viết theo xu hướng trên là Khorev (1749), đây cũng xem là vở bi kịch đầu tiên của Nga, thường được biểu diễn ở cung điện Hoàng gia dưới sự hiện diện của Nữ hoàng Elizabeth. Nếu như phần lớn bi kịch thường thể hiện những xung đột đạo đức thì trong kịch của Sumarokov bắt đầu xuất hiện những xung đột chính trị. Nhân vật Khorev là một anh hùng lí tưởng, có tâm hồn cao thượng, luôn đặt nghĩa vụ và lí trí lên hàng đầu. Khorev yêu vợ, quí trọng tình cảm gia đình nhưng vì nghĩa vụ anh buộc phải tuyên chiến với bố vợ, cuối cùng anh thà chọn cái chết chứ không muốn trở thành kẻ phản bội triều đình.
Vậy là trong cuộc đấu tranh gay gắt đó, cuối cùng lí trí bao giờ cũng chiến thắng, nghĩa vụ cũng được đề cao, con người của quốc gia dân tộc chế ngự con người cá nhân xã hội. Đây cũng là khuynh hướng xây dựng nhân vật theo kiểu “cái loa phát ngôn” cho tư tưởng của tác giả, rất quen thuộc trong kịch cổ điển. Sau Khorev, các vở khác của tác giả như Hamlet (1748) Sinav và Truvor (1751) Yaropolk và Dilitza, Dmitri - kẻ giả danh (1771) cũng có những nét đặc sắc riêng. Hamlet là một phiên bản kịch của Shakespeare nhưng được Sumarokov thay đổi một số chi tiết trong các hồi, tính cách nhân vật Hamlet mạnh mẽ quyết đoán chứ không do dự như nhân vật Hamlet của Shakespeare.
Vì vậy, Hamlet của tác giả được xem như một vở bi kịch của Nga hơn là một vở kịch nước ngoài được công diễn trên sân khấu. Bên cạnh những bi kịch với những kiểu nhân vật anh hùng cao quí, kịch của Sumarokov còn có những câu chuyện về những người cai trị chuyên chế. Trong đó có thể xem vở Dimitri - kẻ giả danh là một ẩn ý lên án chế độ chuyên quyền của Catherine Đại đế, mở ra một truyền thống chỉ trích chính trị sau này trong văn học Nga. Ngoài sáng tác chính là bi kịch, Sumarokov còn sáng tác hài kịch.
Từ năm 1750-1772, ảnh hưởng Molière, Sumarokov sáng tác 12 hài kịch nhỏ. Các vở như Quái vật, Hồi môn lừa dối, Kẻ áp bức, Ba anh em Sovmestniki… chủ yếu phê phán sự lạm dụng của chế độ nông nô, sự nhàn rỗi và tàn nhẫn của giai cấp quí tộc đương thời. Mặc dù nghệ thuật xây dựng tình huống trong các hài kịch trên của Sumarokov không đặc sắc, nhân vật mờ nhạt… nhưng có lẽ ông cũng tạo được luồng sinh khí mới cho sân khấu trung đại vốn quen các vở kịch kinh điển nặng nề; góp phần dự báo sự ra đời của hài kịch Fonvizin. Cùng một thời với Sumarokov, Yakov Knyazhnin (1742-1791) và Vladislav Ozerov (1769-1816) cũng tiếp tục dịch bi kịch của Pháp và sáng tác các bi kịch giả cổ điển.
Những vở kịch của Knyazhnin như Rosslav, Vadim của Novgorod, Kẻ gây gổ, Người lạ…cũng lấy nội dung từ lịch sử Nga, còn Ozerov tiếp tục dòng kịch của Knyazhnin nhưng kịch của ông lại mang các yếu tố tình cảm và lãng mạn. Vì vậy, các vở Oedipus ở Athens, Cái chết của Olèg…của Ozerov tuy nội dung quen thuộc nhưng được công chúng rất ưa thích. Cuối thế kỉ XVIII, văn học Nga xuất hiện khuynh hướng trào phúng hiện thực, đặc biệt các thể loại bậc thấp như hài kịch, ngụ ngôn phát triển mạnh. Theo lí thuyết “Ba phong cách” của M.Lomonosov, hài kịch được xếp vào phong cách bậc thấp dùng để ghi chép những sự việc đời thường.
Vì vậy, loại hình kịch này bị xem nhẹ và trước đây các nhà văn thường đưa lên sân khấu những bi kịch, chính kịch là chủ yếu. Chỉ đến khi Denis Fonvizin (1744-1792) cho ra đời một loạt hài kịch thì ông được biết đến như là nhà viết kịch trào phúng đầu tiên bằng văn xuôi. Trong sự nghiệp kịch của Fonvizin, nổi tiếng nhất là hai vở Viên lữ đoàn trưởng (1766) và Thanh niên quí tộc (1781) - trong đó Thanh niên quí tộc được xem là kiệt tác văn học. Mang đặc điểm của hài kịch là thường phản ánh cuộc sống theo khuynh hướng hiện thực, vở Viên lữ đoàn trưởng của Fonvizin tấn công vào nạn tham nhũng và sự thiếu hiểu biết của giới quí tộc Nga, sự tranh giành địa vị thứ bậc của các quan lại trong tòa án đồng thời cũng chế giễu bệnh “sùng Pháp”(gallomania) trong các gia đình thượng lưu Nga từ cách ăn mặc, nói năng, đi lại…Còn Thanh niên quí tộc lên án sự dốt nát, tục tằn thô lỗ của thế hệ cũ và sự hào nhoáng bên ngoài của thế hệ mới cũng như cách tiếp thu nửa vời của nền giáo dục Châu Âu.
Vở kịch xoay quanh chuyện Mitrofanushka, một cậu ấm hỗn láo, ngu ngốc của một gia đình quý tộc thượng lưu, không muốn đi học nhưng người mẹ độc tài của cậu ta vẫn nuông chiều, vẫn tìm mọi cách cho con mình nhận được đặc quyền các trẻ vị thành niên. Cách giáo dục sai lầm đó tất yếu dẫn đến Mitrofanushka lớn lên sẽ trở thành một chủ nô tham lam tàn bạo. Từ hài kịch này, tên của cậu bé Mitrofanushka đã trở thành biểu tượng cho những thanh niên hư hỏng, ngu ngốc và ích kỉ. Cùng với nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, Fonvizin còn sử dụng ngôn ngữ bình dân rất sống động, biểu cảm, gây ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của sân khấu hiện thực Nga, mở đường cho các tác phẩm của I.Gogol và cả A.Ostrovsky sau này- nhất là với Pushkin, người luôn gọi ông với lòng tôn kính và ấm áp “như là một bậc thầy của châm biếm và “một người bạn của tự do.
Khác với các vở kịch cổ điển lỗi thời thường nặng về nội dung phản ánh, kịch của Krylov rất nhẹ nhàng, nội dung đề cập đến những điều rất đỗi bình thường trong cuộc sống. Ông đã xây dựng những tình tiết rất hài hước về cách ăn mặc, nói năng của tầng lớp quí tộc Nga, góp phần hoàn thiện bức tranh châm biếm về bệnh “sùng Pháp” mù quáng đã có trong hài kịch Fonvizin.