Chương I: Cơ sở ly luận của vấn đề nghiên cứu. Chương II: Một số biện pháp gây hứng thú học tập môn Hóa học lớp 10 THPT. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. Tác giả đã đưa ra một số biện pháp gây hứng thú học tập là sử đụng thí nghiệm.
phim mô phỏng, kể chuyện hóa học, vận dụng tình huống gắn với thực tiển, GV than thiện với HS và đưa sự hài hước trong đạy học. Mỗi biện pháp đều có những ví dụ minh họa cụ thé khá hay và rõ rằng. Sau đó tác giả có thiết kế một số giáo ấn gây hứng thủ cho một số bài trong chương trình lớp 10 THPT. Tác giả tiến hanh thực nghiệm các giáo án có sử dụng biện pháp gay hứng thủ thu thập ý kiến, số liệu cụ thẻ ý kien HS vẻ các biện pháp nay, qua đó nằm được nhu cầu và mong muốn của HS đổi với việc dạy học Hóa học ở trường THPT, từ đó có những bước điều chinh cho phủ hợp với nguyện vọng của các em.
Lâm Gia Hân Trang 7 Khóa luân gây hứng thú học tập PGS TS Trịnh Van Biéu Nhận xét: Nhin chung, các tác giải đã nghiên cứu khả da dạng các biện pháp gay hứng thú. có thê phân theo 5 nhóm sau; s Gây hứng thú bằng cách sử dụng phương tiện đạy học Hóa học 1a môn học đòi hoi tinh tư duy trừu tượng cao do đối tượng nghiên cứu là các nguyên tứ, phân tử. Vị vậy GV có thé sử dụng các phương tiện trực quan không những mang lại hiệu quả cho quá trình dạy học ma con tạo sự mới mẻ, thú vị hứng thủ cho các em như: - Gây hứng thú bằng cách sứ dụng thí nghiệm hóa học kích thích tư duy. - Gây hứng thú bảng cách khai thác, sử dụng phần mém hóa học.
- Gay hứng thú bằng cách sử dụng trình diễn đa phương tiện. - Gây hứng thú bằng việc sử dụng những đoạn phim hay vẻ hóa học. - Gây hứng thủ bằng cách khai thác, sử dụng những tiện ich của máy vi tính và Internet, - Gây hứng thú bảng cách sử dụng sơ đỏ, hình vẽ, tranh anh. © _ Gây hứng thú khi khai thác các thủ pháp về tâm lý Dạy học là một nghệ thuật GV đứng trên bục giảng giống như nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu.
Mặc dù, GV có vốn hiểu biết càng rộng thì kết quả dạy học sẽ càng cao. Tuy nhiên, những phương pháp dạy học hay kiến thức dù có rộng lớn bao nhiễu cũng sẽ trở thành máy móc nếu người GV không có những thủ pháp về tâm ly, hay còn gọi là tính sáng tạo nghệ thuật đạy học thẻ hiện qua các biện pháp: - Gây hứng thú bằng cách khai thác những mẫu chuyện vui. - Gây hứng thú bằng những lời dẫn bài lý thú. - Gây hứng thi khi xây dựng tinh cảm tốt đẹp thầy — trò.
© Gay hứng thú bằng việc khai thác các nguồn kiến thức về hóa học Hóa học là môn học rất thú vị. Kiến thức hóa học vỏ cùng rộng lớn và hap dẫn. Nếu người GV biết khai thác nguồn kiến thức này một cách hiệu quả thì sẽ gây hứng thủ cho HS trong các tiết học. Từ đó, các em hứng thú, say mê tìm hiểu thêm những kiến thức mà GV không có điều kiện cung cấp.
GV có thé áp dụng một số biện pháp sau: - Gây hứng thủ bang việc khai thắc những thông tin mới lạ vẻ hóa học. Lâm Gia Hân Trang 8 Khóa luận gây hửng thú_ học tập PGS TS Trinh Van Biéu - Gây hứng thú bằng việc giới thiệu những kiến thức lich sử của hóa học. - Gây hứng thú bằng việc gắn kiến thức bai giảng với thực tế cuộc sống. - Gây hứng thú bằng việc khai thác những điều mang tinh bị ấn, bí mật.
- Gay hứng thú bang việc giới thiệu những giai thoại và những câu chuyện. © Gây hứng thú bằng việc sử dụng đa dạng các phương pháp day học Không có phương pháp day học nao là vạn năng, vì vậy dé tạo sự mới mẻ và kích tích tư duy của HS thi GV có the: - Gây hứng thú bằng việc sử dụng các phương pháp kich thích tư duy học sinh. - Gây hứng thú bằng việc phối hợp các phương pháp dạy học. - Gây hứng thú bằng việc liên hệ hóa học với các môn học khác.
- Gây hứng thú bằng cách cho học sinh tự khám phá vẻ hóa học. © Gay hứng thú bằng cách tô chức các hoạt động day học Đa số HS khi đến lớp đều mang tâm lý đi “hoc” nên không tránh khỏi những áp lực, GV có thé thay đổi không khí lớp học cũng như tạo điều kiện cho các em vita học vừa chơi thông qua các biện pháp: - Gay hứng thú bằng cách tô chức hoạt động ngoại khóa. - Gây hứng thú bằng cách tổ chức thi “ Đề vui hóa hoc”. - Gây hứng thú bằng cách tổ chức trò chơi day học.
- Gây hứng thú bằng cách khai thác, tổ chức hoạt động nhóm. Quá trình dạy học 1. Khái niệm Trong "Lý luận dạy học" , tác gid Nguyễn An có nêu: “Quá trình dạy và học là sự tác động qua lại có chủ đích được thay đổi một cách có trình tự giữa GV va học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo đưỡng. giáo dục cộng sản chủ nghĩa và phát triển nhân cách cho học sinh”.
Quá trình day và hoc lả một quá trình toàn vẹn bao gồm 3 thành phan không thé thiếu và có quan hệ mật thiết với nhau đó là: môn học. việc dạy và việc học. Ngoài ra, còn có thé định nghĩa theo tắc gid Phan Trọng Ngo: “Qua trình day học là chuỗi liên tiếp các hành động day và hành động của người day và người học đan xen Lâm Gia Hân Trang 9 Khoa luận gây hing thú học tập PGS TS Trịnh Văn Biêu và tương tác với nhau trong khoảng không gian va thời gian nhất định, nhằm thực các hiện nhiệm vụ dạy học” [18, tr. Mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học Quá trình dạy học không phải là phép cộng máy móc hai quá trình giảng đạy và học tập [1, tr.
Tính toàn vẹn của quá trình ấy nằm ớ mục dich chung của day và học ở khả năng không thẻ tổn tại nếu chỉ có day ma không có học. Dạy + Học = I Day học là sự điều khién tôi uu quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm. kiến thức khoa học từ đó hinh thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Dạy và học là loại hình hoạt động hai chiểu.
nó đòi hỏi nhất thiết phải có tác động qua lại giữa GV va học sinh. Tác động ấy điển ra trong những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất - học tập, điều kiện vệ sinh, điều kiện tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ. Dạy và học không thé thiếu tác động qua lại biện chứng giữa GV và học sinh. Nếu sự tích cực truyền đạt của GV mà không có sự tích cực hoạt động đẻ tiếp thu kién thức của học sinh thi quá trình day và học thực tế không điễn ra.
Do đó, bat ki GV nào, dạy bộ môn gì déu phải nhận thức được bản chất của việc học tích cực và xác định đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học. Mỗi quan hệ dé được khẳng định như sau: -_ Cách dạy quyết định cách học do đó người GV có vai trò quyết định. -_ Mọi hoạt động day cla GV (soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá.) phải nhằm phục vụ cho việc học của từng học sinh trong lớp. Các nhà tâm lý học dạy học, qua các công trình nghiên cứu của mình đã khăng định rằng sự hình thành vả phát triển năng lực của học sinh, diễn ra trong quá trình dạy học ở nha trường, chịu sự quy định của năng lực người thay.
Thay giỏi trò sẽ giỏi. đỏ là một quy luật. Do đó, những năng lực cần thiết ở người GV: Trinh độ hiểu biết sâu sắc những tri thức bộ môn minh dạy va những hiểu biết cần thiết những bộ môn liên quan, cũng như những hiểu biết nhất định (càng sâu càng tốt) thực tiễn cuộc sống liên quan đến bộ môn. Nang lực nay của GV quy định trực tiếp đến độ sâu.
độ rộng (khối lượng) và tính thực tiễn của những khái niệm và trí thức khoa học được hình thanh ở học sinh. Người GV phái không ngừng nang cao trong Lâm Gia Hân Trang 10 Khóa luân gáy hứng thú học tập PGS.TS Trinh Văn Biêu học hoi lý thuyết. tiếp cận với những trí thức khoa học hiện đại, nghiên cứu khoa học và tìm hiệu thực tién, không bao giờ bang lòng với vốn tri thức, hiểu biết của minh. Trình độ về phương pháp giảng dạy bộ môn, phương pháp giảng dạy của thầy quy định phương pháp học tập của trò, quy định cách nhin va suy nghĩ của trò.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có nhiêu trường hợp GV nắm vững tri thức bộ môn nhưng do phương pháp giảng đạy không thích hợp. năng lực truyền tải nguyên xi những trí thức trong tải liệu giáo khoa, buộc học sinh phải tiếp thu một cách thụ động. không cần phải phân tích thắc mắc, động não mà chủ yếu ra sức ghi nhớ. học thuộc lòng rồi sau đó lập lại máy móc những gi đã nhớ, Học trong điều kiện giảng dạy như vậy chi hình thành ở học sinh năng lực nhận thức máy móc, nông can, không thé hình thành năng lực tư đuy độc lập sáng tạo, tự mình xây dựng tri thức cho minh.
Tóm lại, trình độ hiểu biết, đặc biệt là hiểu biết tri thức bộ môn và trình độ phương pháp dạy học bộ môn của GV quy định trình độ hiểu biết và năng lực của học sinh. Vai trò của GV trong quá trình day học [14, tr.10] Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục, với việc ứng dụng hệ thống các phương pháp dạy học tích cực, nhà trường đang có những biến đôi vẻ chất trong cách dạy và cách học. Học sinh đến trường không phải chí để nghe những điều thầy đạy vì "nghe rồi quên, nhìn thì sẽ nhớ, nhưng làm thì mới hiểu" (tục ngữ cổ phương Đông). Chỉ có bắt tay vào làm mới có thé hiểu sâu sắc.
Đúng như Brune đã nhận xét: "Kiến thức thu nhận bằng con đường tự khám phá là kiến thức vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất". Dé có thé "lam", học sinh không chi làm theo những mẫu có sẵn ma làm theo cái cần thiết, mục đích và yêu cầu đã định. Học sinh cần được bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết van đẻ. Chính trong quá trình bồi dưỡng năng lực đó, vai trò của người GV lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.