Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học với đề tài "Đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Quỳnh Trang dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Tô Trung Thành tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2023, mã số chuyên ngành: 9310101).
Ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) giữ vai trò cung cấp nguyên vật liệu, phụ tùng, linh kiện và đầu vào trung gian cho các ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, đóng vai trò kết nối nền kinh tế trong nước với chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu. Giai đoạn 2014-2018, số lượng doanh nghiệp (DN) CNHT nội địa có sự gia tăng, đạt hơn 33.000 doanh nghiệp vào năm 2018 (tăng 14,4% so với năm 2014, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14%/năm) và thu hút hơn 600.000 lao động (tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,8%/năm). Một số phân ngành đã đáp ứng một phần nhu cầu nội địa hóa như điện tử gia dụng (30-35%), điện tử phục vụ ô tô - xe máy (40%), xe tải (55%) và xe khách (40%) (Nguyễn Đình Quyết, 2021).
Mặc dù có sự gia tăng về số lượng, khu vực CNHT nội địa Việt Nam bộc lộ nhiều điểm hạn chế về chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trong giai đoạn 2014-2018, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của các DN CNHT nội địa chỉ tăng bình quân 4,8%/năm, thấp hơn đáng kể so với khu vực DN CNHT có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 7,8%/năm và mức trung bình toàn nền kinh tế là 11,2%/năm. Gần 90% DN CNHT nội địa sử dụng máy móc thủ công hoặc bán tự động. Về vị thế chuỗi giá trị, phần lớn DN nội địa chỉ đóng vai trò là nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 cho các DN FDI xuất khẩu hoặc các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) (WB, 2017), dẫn đến khả năng hấp thụ lan tỏa công nghệ bị hạn chế (APEC, 2017). Mặc dù có các nghiên cứu thực nghiệm đơn lẻ tại một số địa phương (Bắc Ninh, Đồng Nai) hoặc cho từng phân ngành cá biệt (điện tử, ô tô, chế biến chế tạo), việc đánh giá một cách hệ thống các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa trên phạm vi cả nước theo phương pháp tiếp cận đường biên sản xuất vẫn là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: Đánh giá tác động của các yếu tố đối với tăng trưởng TFP của DN CNHT nội địa, để từ đó đề xuất các khuyến nghị phù hợp thúc đẩy tăng trưởng TFP cho các DN CNHT nội địa.
Luận án cụ thể hóa thành 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của DN CNHT nội địa là gì? Các yếu tố tác động bên trong DN là những yếu tố nào? Các yếu tố tác động bên ngoài (môi trường) của DN là những yếu tố nào?
- Thực trạng tăng trưởng TFP và thực trạng các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của DN CNHT nội địa là như thế nào?
- Xây dựng mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa được tiến hành như thế nào? Cách tiếp cận nào đối với tăng trưởng TFP là phù hợp? Các biến số thể hiện các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP được xây dựng như thế nào?
- Kết quả thực nghiệm đánh giá tác động của các yếu tố (bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài) đối với tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa như thế nào? Những vấn đề đặt ra đối với các DN CNHT nội địa trong thời gian tới là gì, những giải pháp gì để thúc đẩy tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa trong thời gian tới?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các yếu tố tác động đến tăng trưởng năng suất TFP của các DN CNHT nội địa Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Toàn bộ các DN CNHT nội địa trên lãnh thổ Việt Nam, được phân chia thành 7 tiểu ngành dựa trên mã phân ngành kinh tế Việt Nam VSIC 2007 và VSIC 2018 và phân bố trên 6 vùng kinh tế - xã hội.
- Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích các yếu tố vi mô bên trong (trình độ nhân lực, cường độ vốn, quy mô, tiểu ngành, vùng kinh tế) và các yếu tố vĩ mô bên ngoài (tác động lan tỏa FDI, cầu nội địa, môi trường thể chế, cụm liên kết ngành). Về khía cạnh kỹ thuật, luận án tiếp cận đo lường tăng trưởng TFP theo phương pháp đường biên sản xuất thông qua chỉ số Malmquist TFP, phân rã thành thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) và tiến bộ công nghệ (TC).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014-2018 được lựa chọn cho mô hình thực nghiệm vì 3 lý do: (i) năm 2014 đánh dấu giai đoạn ổn định kinh tế vĩ mô sau khủng hoảng 2009-2011; (ii) sau năm 2019 Tổng cục Thống kê thay đổi phương thức điều tra kết hợp cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thuế làm mất tính đồng nhất của chuỗi số liệu; (iii) từ năm 2020 nền kinh tế xuất hiện cú sốc bất thường từ đại dịch Covid-19. Dữ liệu phân tích thực trạng sử dụng chuỗi số liệu 2014-2018 kết hợp các báo cáo cập nhật gần thời điểm nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc xoay quanh các mạch nghiên cứu chính:
Về khái niệm và đặc điểm ngành công nghiệp hỗ trợ: Thuật ngữ CNHT tại Việt Nam được định hình rõ nét từ công trình do Kenichi Ohno chủ biên (2007), trong đó Nguyễn Thị Xuân Thúy (2007) xác định CNHT là nhóm hoạt động công nghiệp cung ứng đầu vào trung gian (linh kiện, phụ tùng và công cụ sản xuất) cho các ngành lắp ráp, chế biến. Hoàng Văn Châu (2010) và Trương Thị Chí Bình (2010) bổ sung phạm vi đối với linh phụ kiện thuộc các ngành kim loại, nhựa - cao su, điện và điện tử. Định hướng chính sách của Nhà nước được thể hiện qua Nghị định 111/2015/NĐ-CP và Quyết định 9028/QĐ-BCT quy hoạch 3 nhóm lĩnh vực: linh kiện phụ tùng, CNHT dệt may - da giày, và CNHT công nghệ cao. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam tập trung vào các phạm vi địa phương như Bắc Ninh (Trần Hồng Nhạn, 2019), Đồng Nai (Luu, 2014) hoặc đi sâu vào từng phân ngành đơn lẻ như linh kiện điện tử (Vũ Thị Thanh Huyền, 2018; Phan Văn Tường, 2016), phụ tùng ô tô (Vũ Anh Trọng, 2018), công nghiệp chế biến chế tạo (Nguyễn Thị Mai Lan, 2017), và xây dựng dân dụng (Phạm Văn Hùng, 2015).
Về phương pháp luận đo lường TFP: Khởi đầu từ cách tiếp cận phi biên của Solow (1957) giả định mọi đơn vị đều nằm trên đường biên và TFP là phần dư của gia tăng sản lượng nhờ tiến bộ kỹ thuật ngoại sinh. Để khắc phục giả định này, Farrell (1957) đề xuất cách tiếp cận đường biên sản xuất với khái niệm hiệu quả kỹ thuật (TE). Caves và cộng sự (1982a, 1982b) kết hợp hàm khoảng cách của Malmquist (1953) để xây dựng chỉ số Malmquist TFP, cho phép phân rã tăng trưởng TFP (TFPC) thành hai thành phần độc lập: thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC - thể hiện hiệu ứng bắt kịp đường biên) và tiến bộ công nghệ (TC - thể hiện sự dịch chuyển của chính đường biên sản xuất). Tính tương thích giữa TC trong tiếp cận biên và chỉ số Solow trong tiếp cận phi biên được kiểm chứng bởi Mattsson và cộng sự (2020) cũng như Kumbhakar và Lien (2017). Trong thực nghiệm, chỉ số Malmquist TFP thường được áp dụng ở cấp độ vĩ mô với số lượng quan sát nhỏ (Jajri, 2007 tại Malaysia; Danquah và cộng sự, 2014 cho 67 quốc gia; Tekiner-Moğulkoç và Şişman, 2022 tại Thổ Nhĩ Kỳ; Arjun, 2021; Nguyễn Thị Lê Hoa, 2017; Yin và Cao, 2022). Ở cấp độ vi mô, việc ứng dụng chỉ số Malmquist TFP để đánh giá các yếu tố tác động còn hạn chế do đòi hỏi khắt khe về bộ dữ liệu bảng cân bằng (Boame và Obeng, 2005; Das, 2017; Liu và Nishijima, 2013; Umetsu và cộng sự, 2003; Ho, 2012).
Về các yếu tố tác động đến TFP và TE: Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước xác định hai nhóm yếu tố chính:
- Nhóm yếu tố bên trong: Trình độ khoa học - công nghệ và cường độ vốn (Le và cộng sự, 2020; Isaksson, 2007; Ngo và cộng sự, 2020; Daniel và Ana, 2016; Ding và cộng sự, 2016; Anh, 2018; Oanh, 2019; Martins và cộng sự, 2018; Linh, 2021; Ismail và Abidin, 2017; Batra và Tan, 2003; Gumbau-Albert, 2002); chất lượng nhân lực và chi phí tiền lương (Jajri, 2007; Charoenrat và Charles, 2014; Crespi và Alvarez, 2003; Sari và cộng sự, 2016); khả năng tài chính và cơ cấu nợ (Giang và cộng sự, 2019; Nguyễn Thế Huỳnh, 2019); hoạt động xuất khẩu; quy mô doanh nghiệp; loại hình sở hữu và tuổi doanh nghiệp.
- Nhóm yếu tố bên ngoài: Tác động lan tỏa từ khu vực FDI gồm lan tỏa nội ngành và lan tỏa liên ngành theo chiều dọc (Sari và cộng sự, 2016; Rahman và Inaba, 2021; Khalifah và cộng sự, 2015; Farole và Winkler, 2015; Kim, 2015; Ni và cộng sự, 2017; Nguyen và cộng sự, 2020; Thang và cộng sự, 2016; Nguyễn Thế Huỳnh và cộng sự, 2021; Wiboonchutikula và cộng sự, 2016; Duong và Hung, 2017; Fujimori và Sato, 2015; Newman và cộng sự, 2015); môi trường thể chế cấp tỉnh và chỉ số PCI (Le và cộng sự, 2020; Nguyễn Thế Huỳnh, 2019; Charoenrat và cộng sự, 2013; Bich và cộng sự, 2009; Duong và cộng sự, 2019); dung lượng thị trường (Perelman, 1995; Jajri, 2007; Ohno, 2007); mức độ cạnh tranh thị trường (Ding và cộng sự, 2016; Hoang và cộng sự, 2008); và cụm liên kết ngành (Kukalis, 2010; Lu và cộng sự, 2016; Cook và cộng sự, 2017; Mamiita và cộng sự, 2020).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện:
Thứ nhất, các công trình về CNHT tại Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng khảo sát mẫu nhỏ tại một địa phương hoặc giới hạn trong một ngành hẹp, chưa có nghiên cứu bao quát toàn bộ 7 tiểu ngành CNHT trên quy mô cả nước.
Thứ hai, các nghiên cứu hiện có chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá doanh thu hoặc sự phát triển chung, chưa có công trình nào đánh giá các yếu tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa.
Thứ ba, việc ứng dụng cách tiếp cận đường biên sản xuất (phân rã Malmquist TFP thành TEC và TC) trên bộ dữ liệu bảng cân bằng cấp doanh nghiệp quy mô lớn để đánh giá đồng thời tác động của các yếu tố nội tại và yếu tố môi trường còn chưa được thực hiện đối với khu vực CNHT Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp bức tranh chi tiết về khả năng bắt kịp kỹ thuật cũng như đổi mới công nghệ của các DN CNHT nội địa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng ba lý thuyết kinh tế làm nền tảng phân tích:
- Lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Lucas, 1988; Romer, 1994): Tăng trưởng TFP không phải là biến ngoại sinh mà được quyết định bởi các yếu tố nội sinh như tích lũy vốn con người, trang bị máy móc thiết bị hiện đại và tri thức công nghệ. Trong hàm sản xuất dạng logarit $\ln Y = Z + \alpha \ln K + \beta \ln L$, vector $Z$ biểu diễn các yếu tố nội sinh thúc đẩy dịch chuyển đường sản xuất (Tăng Văn Khiên, 2018; Castellani & Zanfei, 2003; Hoi, 2018).
- Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Barney, 1986): Nhấn mạnh các nguồn lực nội tại mà doanh nghiệp có quyền kiểm soát (nhân lực, máy móc, tài chính, quy mô) là tiền đề tạo nên năng lực cạnh tranh và hiệu quả kỹ thuật.
- Lý thuyết kinh tế học thể chế (DiMaggio & Powell, 1983): Doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường cụ thể, chịu sự chi phối từ các yếu tố bên ngoài như quy định pháp lý, năng lực điều hành của chính quyền, nhu cầu thị trường và mạng lưới cung ứng liên kết ngành.
Dựa trên phân loại của Cơ quan Thống kê Châu Âu (NACE) và đối chiếu với hệ thống ngành kinh tế Việt Nam VSIC 2007 và VSIC 2018, luận án xác lập danh mục 7 tiểu ngành CNHT và trình độ công nghệ tương ứng:
| STT |
Tiểu ngành công nghiệp hỗ trợ |
Trình độ công nghệ (theo NACE) |
| 1 |
CNHT Dệt may - da giày |
Công nghệ thấp |
| 2 |
Linh kiện kim loại (cơ khí) |
Công nghệ trung bình |
| 3 |
Linh kiện nhựa - cao su |
Công nghệ trung bình |
| 4 |
Linh kiện điện |
Công nghệ cao |
| 5 |
Linh kiện điện tử |
Công nghệ cao |
| 6 |
Linh kiện ô tô, xe máy |
Công nghệ cao |
| 7 |
CNHT Công nghệ cao (CNC) |
Công nghệ cao |
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Luận án sử dụng cách tiếp cận đường biên sản xuất ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) với định hướng đầu ra (output-oriented). Đầu ra được xác định là Giá trị gia tăng (VA); hai đầu vào cơ bản là Lao động ($L$) và Vốn ($K$).
- Hàm sản xuất dạng Translog được lựa chọn thông qua kiểm định tỷ số khả số (Likelihood Ratio - LR) để so sánh tính phù hợp đối với hàm Cobb-Douglas.
- Chỉ số Malmquist TFP được tính toán và phân rã thành hai thành phần theo công thức:
$$\text{TFPC} = \text{TEC} \times \text{TC} \quad \text{hay} \quad \ln(\text{TFPC}) = \ln(\text{TEC}) + \ln(\text{TC})$$
Trong đó: $\text{TEC}$ (Technical Efficiency Change) đo lường sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật (mức độ bắt kịp đường biên của DN so với các DN hoạt động tối ưu); $\text{TC}$ (Technological Change) đo lường tiến bộ công nghệ (sự dịch chuyển của bản thân đường biên sản xuất).
- Mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động: Sau khi tính toán được $\ln(\text{TEC})$, $\ln(\text{TC})$ và $\ln(\text{TFPC})$, ba phương trình hồi quy được thiết lập với cùng một tập hợp các biến giải thích nhằm nhận diện sự khác biệt về tác động của từng yếu tố lên từng thành phần của TFP.
- Hệ thống biến số nghiên cứu bao gồm:
- Nhóm biến nội tại: Chất lượng nhân lực (đo bằng chi phí bình quân cho một lao động); Cường độ vốn (tỷ số vốn trên lao động); Biến giả quy mô doanh nghiệp; Biến giả 7 tiểu ngành CNHT; Biến giả 6 vùng kinh tế - xã hội.
- Nhóm biến môi trường bên ngoài: Tác động lan tỏa FDI nội ngành (ngang); Tác động lan tỏa FDI liên ngành dọc gồm thượng nguồn (forward) và hạ nguồn (backward) được tính toán từ bảng vào - ra IOT 2016; Cầu nội địa đối với sản phẩm CNHT; Cụm liên kết ngành; Môi trường thể chế cấp tỉnh đo lường qua điểm số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
- Luận án đã chủ động loại bỏ một số biến như chi phí R&D, hoạt động xuất khẩu, cơ cấu vốn vay, tuổi doanh nghiệp và mức độ tập trung thị trường HHI do không có đủ trường dữ liệu nhất quán trong cơ sở dữ liệu Tổng điều tra doanh nghiệp.
- 8 nhóm giả thuyết nghiên cứu (từ H1 đến H8) được xây dựng để kiểm định chiều hướng tác động của các yếu tố trên tới TEC, TC và TFPC.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu vi mô từ Tổng điều tra Doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (giai đoạn điều tra 2015-2019, phản ánh số liệu thực tế giai đoạn 2014-2018). Từ dữ liệu gốc, tác giả trích xuất và làm sạch để lập bộ dữ liệu bảng cân bằng (strongly balanced panel) gồm các DN CNHT nội địa hoạt động liên tục trong cả 5 năm.
- Bảng cân đối liên ngành (Input-Output Table - IOT) năm 2016 của Tổng cục Thống kê dùng để xác định các hệ số liên kết kỹ thuật và tính toán các chỉ số lan tỏa FDI liên ngành dọc.
- Cơ sở dữ liệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2014-2018 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của DN CNHT nội địa
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về CNHT và TFP. Khái niệm CNHT được chuẩn hóa thành 7 tiểu ngành thuộc 3 nhóm trình độ công nghệ. Về mặt vai trò, CNHT đóng góp vào: (1) Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua mô hình kim cương của Porter (1990); (2) Đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo nhờ tính tương tác giữa nhà cung ứng và DN sản xuất thành phẩm; (3) Thúc đẩy công nghiệp hóa qua chuyển dịch lao động; (4) Thu hút dòng vốn FDI nhờ giảm chi phí mua sắm linh kiện (vốn chiếm 60-70% tổng chi phí của các DN Nhật Bản theo Ohno, 2007); (5) Thúc đẩy sự phát triển của khối DN nhỏ và vừa.
Chương 1 cũng làm rõ 4 đặc điểm cốt lõi của ngành: tính đa cấp; tính hệ thống liên kết theo chuỗi; tính đa dạng về trình độ công nghệ; và tính tập trung số lượng lớn DN nhỏ và vừa. Về mặt TFP, chương phân biệt rõ cách tiếp cận phi biên của Solow (1957) và cách tiếp cận đường biên sản xuất (Farrell, 1957; Caves và cộng sự, 1982a,b). Khung lý thuyết tăng trưởng nội sinh, lý thuyết nguồn lực và lý thuyết thể chế được tích hợp để lập Bảng 1.1 tổng hợp 14 yếu tố tiềm năng tác động đến TFP và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cần được thực hiện đối với CNHT nội địa Việt Nam.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu
Chương 2 cụ thể hóa thiết kế nghiên cứu từ khung phân tích (Hình 2.1). Nội dung trọng tâm bao gồm việc mô hình hóa toán học cho chỉ số Malmquist TFP định hướng đầu ra dựa trên hàm khoảng cách. Chương phân tích bản chất của hai trạng thái quy mô không đổi (CRS) và quy mô thay đổi (VRS), sau đó tích hợp phương pháp biên ngẫu nhiên SFA để xử lý sai số ngẫu nhiên bên cạnh thành phần phi hiệu quả kỹ thuật.
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình xây dựng biến số: biến phụ thuộc ($\ln\text{TEC}$, $\ln\text{TC}$, $\ln\text{TFPC}$) thu được từ kết quả hàm SFA Translog; các biến giải thích đại diện cho nhóm yếu tố bên trong (chi phí lao động bình quân, cường độ vốn, biến giả quy mô, 7 tiểu ngành, 6 vùng kinh tế) và nhóm yếu tố bên ngoài (lan tỏa FDI ngang, lan tỏa FDI dọc thượng nguồn và hạ nguồn từ bảng IOT 2016, biến cầu nội địa, biến cụm liên kết ngành, điểm PCI). Chương thiết lập 8 nhóm giả thuyết nghiên cứu (Bảng 2.2) và giải thích quy trình xử lý lọc bộ dữ liệu bảng cân bằng từ Tổng điều tra Doanh nghiệp giai đoạn 2014-2018.
Chương 3: Thực trạng phát triển, tăng trưởng TFP và các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của DN CNHT nội địa
Chương 3 sử dụng số liệu thống kê mô tả để phản ánh bức tranh thực trạng của ngành giai đoạn 2014-2018:
- Quy mô và cơ cấu: Năm 2018, số DN CNHT nội địa đạt hơn 33.000 DN (tăng 14,4% so với năm 2014; mức tăng trưởng số lượng DN bình quân toàn giai đoạn là 14%/năm); quy mô lao động đạt trên 600.000 người (tăng trưởng bình quân 7,8%/năm). Đại đa số DN có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Về phân bố địa lý, DN tập trung chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ.
- Tăng trưởng TFP và các thành phần: Chỉ số Malmquist TFP của CNHT nội địa giai đoạn 2015-2018 tăng trưởng bình quân 4,8%/năm, thấp hơn đáng kể mức 7,8%/năm của các DN CNHT FDI và mức 11,2%/năm của bình quân các ngành kinh tế cả nước (Bảng 3.12). Phân rã TFP cho thấy tiến bộ công nghệ (TC) là động lực chủ yếu dẫn dắt tăng trưởng TFP của DN nội địa, tuy nhiên giá trị TC của khối nội địa vẫn thấp hơn nhiều so với khu vực FDI.
- Hiện trạng các yếu tố tác động: Về nội tại, chất lượng lao động thấp thể hiện qua chi phí cho một lao động của DN CNHT nội địa thấp hơn mức bình quân cả nước và khu vực FDI (Hình 3.3). Trình độ cơ giới hóa yếu kém khi gần 90% DN sử dụng thiết bị thủ công và bán tự động, cường độ vốn trang bị trên lao động thấp (Hình 3.4). Về môi trường, các DN nội địa gặp khó khăn trong việc kết nối với các tập đoàn FDI, chỉ tham gia ở phân khúc giá trị gia tăng thấp (cấp 2, cấp 3); các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chủ yếu mới dừng lại ở ưu đãi thuế, trong khi các hỗ trợ về R&D, chuyển giao công nghệ và đào tạo kỹ năng còn rất hạn chế.
Chương 4: Kết quả thực nghiệm và kiểm định giả thuyết
Chương 4 báo cáo kết quả định lượng thu được từ các mô hình kinh tế lượng:
- Kiểm định dạng hàm: Kiểm định tỷ số khả số (LR test) tại Bảng 4.3 đã bác bỏ dạng hàm Cobb-Douglas, xác nhận hàm sản xuất dạng Translog là phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu.
- Ước lượng hàm sản xuất Translog: Bảng 4.4 trình bày các hệ số ước lượng của đầu vào vốn, lao động, thời gian và các biến tương tác bậc hai, phản ánh độ co giãn của đầu ra theo các yếu tố đầu vào.
- Tính toán TEC, TC và TFPC: Bảng 4.5 tổng hợp giá trị trung bình của $\ln\text{TEC}$, $\ln\text{TC}$ và $\ln\text{TFPC}$ theo các năm và phân theo 7 tiểu ngành CNHT, xác nhận sự biến thiên của hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ giữa các nhóm ngành có mức độ thâm dụng công nghệ khác nhau.
- Ước lượng mô hình các yếu tố tác động: Bảng 4.6 trình bày kết quả hồi quy của ba mô hình với biến phụ thuộc lần lượt là TEC, TC và TFPC. Bảng 4.7 tổng hợp kết quả kiểm định 8 nhóm giả thuyết nghiên cứu:
- Tác động của các yếu tố nội tại: Cường độ vốn và chất lượng nhân lực (chi phí lao động bình quân) có tác động tích cực đến năng suất và sự dịch chuyển công nghệ. Quy mô doanh nghiệp thể hiện lợi thế kinh tế theo quy mô khi các DN quy mô lớn có mức độ cải thiện TFP vượt trội hơn nhóm DN nhỏ và siêu nhỏ. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 7 tiểu ngành và giữa 6 vùng kinh tế - xã hội.
- Tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài: Tác động lan tỏa FDI nội ngành và liên ngành dọc (thượng nguồn và hạ nguồn) thể hiện các chiều hướng tác động đa dạng; dung lượng cầu nội địa và sự hiện diện của cụm liên kết ngành đóng vai trò hỗ trợ thúc đẩy năng suất; chỉ số môi trường thể chế cấp tỉnh (PCI) có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đối với việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật và tăng trưởng TFP của doanh nghiệp.
Chương 5: Khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng TFP DN CNHT nội địa trong thời gian tới
Chương 5 phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế mới (việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP và sự dịch chuyển của làn sóng FDI thế hệ mới). Trên cơ sở đó, chương nhận diện 6 vấn đề trọng tâm mà DN CNHT nội địa phải đối mặt: áp lực cạnh tranh linh kiện nhập khẩu, rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, điểm nghẽn nguồn nhân lực kỹ năng cao, khả năng tiếp cận vốn đầu tư máy móc, sự đứt gãy liên kết chuỗi cung ứng, và hiệu quả chính sách hỗ trợ còn hạn chế.
Chương đề xuất hệ thống giải pháp chia thành hai nhóm:
- Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nội tại của DN CNHT nội địa: Đầu tư đổi mới công nghệ và hiện đại hóa máy móc thiết bị; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ phức tạp; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và năng lực tài chính.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường hỗ trợ doanh nghiệp: Xây dựng cơ chế thúc đẩy liên kết thực chất giữa DN FDI và DN nội địa; phát triển đồng bộ các cụm liên kết ngành CNHT; chuyển dịch trọng tâm chính sách hỗ trợ của Nhà nước từ miễn giảm thuế sang các hình thức hỗ trợ tín dụng ưu đãi, tài trợ nghiên cứu đổi mới công nghệ (R&D) và chuẩn hóa chất lượng sản phẩm; tiếp tục cải cách môi trường kinh doanh và nâng cao chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh (PCI). Chương cũng nêu rõ các khuyến nghị cụ thể đối với bản thân các DN và các Hiệp hội ngành hàng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt học thuật và phương pháp luận:
- Luận án đã áp dụng cách tiếp cận đường biên sản xuất thông qua hàm biên ngẫu nhiên (SFA) dạng Translog để đo lường chỉ số Malmquist TFP trên dữ liệu bảng cân bằng cấp doanh nghiệp của toàn bộ khu vực CNHT nội địa Việt Nam.
- Luận án đã phân rã thành công chỉ số Malmquist TFP thành hai cấu phần độc lập là thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) và tiến bộ công nghệ (TC), qua đó kiểm định đồng thời tác động của hệ thống các yếu tố nội sinh và ngoại sinh lên từng thành phần này, khắc phục hạn chế của các cách tiếp cận phi biên truyền thống vốn giả định các doanh nghiệp đều đạt hiệu quả sản xuất tối ưu.
Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng năng suất của 7 tiểu ngành CNHT nội địa giai đoạn 2014-2018, chỉ ra mức tăng trưởng TFP khiêm tốn (4,8%/năm) và sự thua kém so với khu vực DN FDI (7,8%/năm) cũng như mức bình quân cả nước (11,2%/năm).
- Làm rõ vai trò then chốt của các yếu tố nguồn lực nội tại (trang bị vốn, chất lượng nhân lực, quy mô DN) và các yếu tố môi trường (lan tỏa FDI, liên kết ngành, chỉ số PCI) đối với việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ.
- Nhận diện lỗ hổng chính sách hiện hành (chủ yếu tập trung vào ưu đãi thuế nhưng thiếu hụt hỗ trợ nâng cao kỹ năng, R&D và tài chính), từ đó xây dựng hệ thống giải pháp phân định cho Chính phủ, doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng nhằm thúc đẩy tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa trong bối cảnh thực thi các hiệp định FTA thế hệ mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về dữ liệu: Do Tổng cục Thống kê thay đổi quy trình điều tra và kết hợp dữ liệu thuế sau năm 2019, cùng với tác động gián đoạn của đại dịch Covid-19 từ năm 2020, giai đoạn nghiên cứu mô hình kinh tế lượng buộc phải giới hạn trong giai đoạn 2014-2018.
- Về biến số: Do các hạn chế cố hữu về trường thông tin trong bộ số liệu Tổng điều tra Doanh nghiệp, luận án không thể đưa vào mô hình một số biến số giải thích quan trọng đã được tổng quan lý thuyết xác định như: chi phí R&D cụ thể, chi tiết hoạt động xuất khẩu, tuổi doanh nghiệp, cơ cấu vốn vay và mức độ cạnh tranh thị trường (chỉ số HHI).
- Về mẫu nghiên cứu: Việc áp dụng cách tiếp cận đường biên Malmquist TFP đòi hỏi bộ dữ liệu bảng cân bằng (strongly balanced panel), dẫn đến việc loại bỏ các doanh nghiệp gia nhập mới hoặc rút lui khỏi thị trường trong giai đoạn nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cập nhật và mở rộng khung thời gian nghiên cứu sang giai đoạn bình thường mới sau đại dịch Covid-19 khi chuỗi dữ liệu thống kê đạt được sự đồng nhất.
- Bổ sung các phương pháp thu thập dữ liệu chuyên sâu thông qua khảo sát thực địa để đưa các biến số về hoạt động R&D, chuyển đổi số và các chỉ tiêu tài chính chi tiết vào mô hình hồi quy.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động riêng biệt của từng hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP) đối với sự dịch chuyển công nghệ và hiệu quả kỹ thuật trong từng tiểu ngành CNHT cụ thể.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, chính quyền các địa phương): Luận án cung cấp luận cứ khoa học để điều chỉnh và ban hành các chính sách phát triển CNHT; định hướng chuyển đổi hình thức hỗ trợ từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ đổi mới máy móc, đào tạo lao động kỹ thuật cao, phát triển cụm liên kết ngành và hoàn thiện các chỉ số thành phần PCI.
- Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh kinh tế: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình ứng dụng hàm sản xuất Translog, kỹ thuật ước lượng biên ngẫu nhiên SFA, phương pháp phân tách chỉ số Malmquist TFP định hướng đầu ra và kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng liên kết với bảng cân đối liên ngành IOT.
- Đối với các doanh nghiệp CNHT và các Hiệp hội ngành hàng: Giúp các nhà quản trị nhận thức rõ vị thế năng suất, khoảng cách công nghệ so với khu vực FDI, từ đó xác định chiến lược đầu tư công nghệ, phân bổ nguồn lực lao động và chủ động kết nối vào các chuỗi cung ứng công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tốc độ tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa giai đoạn 2014-2018 đạt mức bao nhiêu và có sự chênh lệch như thế nào so với các khu vực khác?
Trong giai đoạn 2014-2018, chỉ số TFP của các DN CNHT nội địa Việt Nam tăng trưởng trung bình 4,8%/năm. Tốc độ này thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng TFP của khu vực DN CNHT có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 7,8%/năm và mức tăng trưởng trung bình của toàn bộ các ngành kinh tế trong cả nước là 11,2%/năm.
2. Luận án phân chia ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa Việt Nam thành những tiểu ngành nào và tương ứng với các cấp độ công nghệ ra sao?
Luận án phân chia CNHT thành 7 tiểu ngành dựa trên mã VSIC và phân loại công nghệ theo tiêu chuẩn NACE:
- Trình độ công nghệ thấp: (1) CNHT dệt may - da giày.
- Trình độ công nghệ trung bình: (2) Linh kiện kim loại (cơ khí); (3) Linh kiện nhựa - cao su.
- Trình độ công nghệ cao: (4) Linh kiện điện; (5) Linh kiện điện tử; (6) Linh kiện ô tô, xe máy; (7) CNHT công nghệ cao (CNC).
3. Vì sao luận án chỉ sử dụng dữ liệu giai đoạn 2014-2018 để ước lượng các mô hình kinh tế lượng?
Tác giả lựa chọn giai đoạn 2014-2018 xuất phát từ 3 nguyên nhân: (i) Năm 2014 nền kinh tế đạt trạng thái tương đối ổn định sau giai đoạn khủng hoảng 2009-2011; (ii) Giai đoạn sau 2019 Tổng cục Thống kê thay đổi phương thức điều tra kết hợp với dữ liệu Tổng cục Thuế làm dữ liệu không còn giữ được tính nhất quán với giai đoạn trước; (iii) Từ năm 2020 nền kinh tế chịu tác động tiêu cực bất thường từ đại dịch Covid-19.
4. Chỉ số Malmquist TFP trong luận án được phân tách thành những thành phần nào và có ý nghĩa gì đối với nghiên cứu?
Chỉ số Malmquist TFP được phân tách thành hai thành phần: Thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) và Tiến bộ công nghệ (TC). Trong đó, TEC thể hiện khả năng bắt kịp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả tối ưu nằm trên đường biên sản xuất (catching-up effect), còn TC phản ánh sự dịch chuyển của chính đường biên sản xuất nhờ vào đổi mới và cải tiến công nghệ (technical innovation).
5. Những rào cản chính nào từ môi trường thể chế và chính sách đang cản trở sự tăng trưởng TFP của các DN CNHT nội địa?
Các rào cản chính bao gồm: chính sách hỗ trợ của Nhà nước hiện tại chủ yếu tập trung vào ưu đãi thuế - hình thức chưa tạo ra động lực trực tiếp để nâng cao năng suất; các hỗ trợ cốt lõi như nâng cao kỹ năng người lao động, hỗ trợ tài chính cho máy móc thiết bị và tài trợ nghiên cứu đổi mới công nghệ (R&D) còn rất ít DN tiếp cận được; bên cạnh đó, tính liên kết trong chuỗi cung ứng giữa DN nội địa với các tập đoàn FDI còn lỏng lẻo, khiến DN nội địa khó hấp thụ hiệu ứng lan tỏa công nghệ.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Quỳnh Trang đã thực hiện việc đánh giá các yếu tố tác động đến tăng trưởng TFP của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa Việt Nam giai đoạn 2014-2018 bằng cách tiếp cận đường biên sản xuất ngẫu nhiên SFA và chỉ số Malmquist TFP. Công trình đã phân tách rõ nét cơ chế tác động của hệ thống các yếu tố nội tại (chất lượng lao động, cường độ vốn, quy mô, tiểu ngành, vùng kinh tế) và các yếu tố môi trường (lan tỏa FDI, cầu thị trường, cụm liên kết, chỉ số PCI) lên hai cấu phần hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ. Các kết quả thực nghiệm là căn cứ khoa học quan trọng để đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp và hoàn thiện thể chế hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập mới.