Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Các mô hình đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả, năng suất các doanh nghiệp trong ngành chế biến, chế tạo Việt Nam" được nghiên cứu sinh Triệu Tất Đạt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn Nguyễn Thị Quỳnh Lan tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2024), thuộc chuyên ngành Toán kinh tế (mã số: 9310101).
Về tính cấp thiết, ngành chế biến, chế tạo giữ vai trò nòng cốt đối với tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và việc làm tại Việt Nam, song vẫn tồn tại những hạn chế về năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đồng thời, quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã làm thay đổi căn bản cấu trúc sở hữu. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam bộc lộ nhiều khoảng trống: (1) Kết luận về tác động của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài chưa có sự thống nhất; (2) Đo lường hiệu quả phần lớn dựa vào các chỉ tiêu tài chính đơn lẻ (như ROA, ROE) trên phạm vi hẹp (doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE); (3) Phương pháp kinh tế lượng truyền thống (OLS, mô hình ảnh hưởng cố định FEM, ảnh hưởng ngẫu nhiên REM) chưa giải quyết triệt để vấn đề nội sinh và tính không đồng nhất; (4) Hầu hết các nghiên cứu giả định ngầm định rằng các loại hình sở hữu hoạt động trên cùng một hàm sản xuất và đường biên công nghệ chung khi chỉ đưa cấu trúc sở hữu vào dưới dạng biến giả độc lập.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng mô hình, ước lượng và phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả kỹ thuật, khoảng cách công nghệ và năng suất của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam. Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Các doanh nghiệp thuộc sở hữu khác nhau (doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và FDI) của ngành chế biến, chế tạo có cùng đường biên công nghệ không?
- Nếu các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau không cùng đường biên công nghệ thì hiệu quả và khoảng cách công nghệ của mỗi nhóm sở hữu đến đường biên chung như thế nào?
- Những nhân tố nào tác động và tác động đến hiệu quả của các doanh nghiệp theo cấu trúc sở hữu khác nhau và đến đường biên chung như thế nào?
- Tăng trưởng năng suất, thay đổi hiệu quả và tiến bộ công nghệ của các doanh nghiệp theo các cấu trúc sở hữu khác nhau là như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả, năng suất của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam. Phạm vi không gian là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm bao quát giai đoạn 2012–2020 dựa trên dữ liệu Điều tra doanh nghiệp hàng năm kết hợp số liệu vĩ mô từ Niên giám thống kê và Ngân hàng Thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại hệ thống nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cấu trúc sở hữu, đo lường hiệu quả và phân rã năng suất nhân tố tổng hợp (TFP):
Về tác động của cấu trúc sở hữu đến kết quả doanh nghiệp, các công trình quốc tế được tác giả tổng hợp gồm: Sarkar và cộng sự (1998), Bonin và cộng sự (2005), Berger và cộng sự (2004, 2009), Cornett và cộng sự (2009), Jiang và cộng sự (2013), Lin và cộng sự (2016), Belkhir (2009), Fauzi và Locke (2012), Jones và cộng sự (2005), La Porta và cộng sự (1999a, 1999b, 2000), Chen và cộng sự (2011), Margaritis và Psillaki (2010), Morck và cộng sự (2000), Yu (2013), Rydqvist và cộng sự (2014), Wei và Varela (2003), Tian và Estrin (2008), Xu và cộng sự (2005). Các nghiên cứu tại Việt Nam được tác giả phân tích gồm: Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Phạm Thị Thu Trang (2017), Nguyễn Anh Phong (2017), Nguyễn Minh Hoàng và Nguyễn Thu Hiền (2014), Trần Huy Hoàng và cộng sự (2016), Nguyễn Mạnh Thắng và Freeman (2009), Nguyễn Mạnh Cường (2004), Tran (2005).
Về phương pháp đo lường hiệu quả, đường biên và năng suất, tác giả điểm lại các công trình nền tảng và phát triển: Debreu (1951), Koopmans (1951), Farrell (1957), Shephard (1953, 1970); phân tích bao dữ liệu (DEA) qua Charnes, Cooper và Rhodes (1978), Banker, Charnes và Cooper (1984), Seiford và Thrall (1990), Lovell (1993), Tone (2001), Wadud (2004); phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) từ Aigner và Chu (1968), Schmidt (1976), Aigner, Lovell và Schmidt (1977), Meeusen và van den Broeck (1977), Battese và Coelli (1995), Kumbhakar, Ghosh và McGuckin (1991); các ứng dụng SFA ngành của Ayed-Mouelhi và Goaied (2003), Cotfas và cộng sự (2000), To (2004), Nguyễn Khắc Minh (2005), Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2007, 2013). Về đường biên meta, tác giả phân tích các nghiên cứu của Hayami (1969), Hayami và Ruttan (1970), O'Donnell và cộng sự (2008), và Huang và cộng sự (2014). Về chỉ số năng suất Malmquist và phân rã TFP, tác giả điểm lại Caves, Christensen và Diewert (1982a, b), Berg và cộng sự (1992), Färe và cộng sự (1994), Shestalova (2003), Pastor và cộng sự (2005), Ali Emrouznejad và Guo-liang Yang (2016), Meiting Fan, Shuai Shao và Lili Yang (2015), Nguyễn Khắc Minh và Giang Thanh Long (2008).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây áp đặt một đường biên công nghệ đồng nhất cho các nhóm sở hữu khác nhau và sử dụng chỉ số Malmquist truyền thống vốn mắc khuyết tật không thỏa mãn tính tuần hoàn và dễ gặp hiện tượng không có nghiệm khả thi trong bài toán quy hoạch tuyến tính. Luận án khắc phục các nhược điểm này bằng cách kiểm định tính thuần nhất công nghệ, áp dụng mô hình đường biên meta ngẫu nhiên (stochastic metafrontier) và chỉ số năng suất Malmquist toàn cầu (Global Malmquist Index) để phân rã TFP theo từng nhóm sở hữu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 4 lý thuyết nền tảng về cấu trúc sở hữu và quản trị công ty:
- Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Cost Theory): Fama và Jensen (1983), Mak và Li (2001), Bos (1991), Brickley và cộng sự (1997), Agrawal và Knoeber (1996), phân tích sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát làm phát sinh chi phí đại diện do thông tin bất đối xứng.
- Lý thuyết lựa chọn công cộng (Public Choice Theory): La Porta và cộng sự (1999b), Tian và Estrin (2008), phân tích hành vi của các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước khi theo đuổi các mục tiêu chính trị hoặc thỏa dụng cá nhân thay vì tối đa hóa lợi nhuận.
- Lý thuyết quyền sở hữu (Property Rights Theory): Berger và cộng sự (2004), khẳng định cấu trúc sở hữu quyết định cơ chế giám sát và động lực phân bổ nguồn lực hiệu quả.
- Lý thuyết OLI (Dunning, 1979): Giải thích lợi thế sở hữu (Ownership), địa điểm (Location) và nội bộ hóa (Internalization) của doanh nghiệp đa quốc gia (FDI) so với doanh nghiệp trong nước.
Về phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng kinh tế lượng kết hợp quy hoạch toán học phi tham số:
- Kiểm định giả thuyết công nghệ: Kiểm định giả thuyết $H_{01}$ về việc các doanh nghiệp thuộc 3 loại hình sở hữu (nhà nước, tư nhân, FDI) có chung một đường biên công nghệ hay không, và kiểm định $H_0$ về dạng hàm sản xuất (Cobb-Douglas so với Translog - loga siêu việt).
- Mô hình đường biên meta ngẫu nhiên: Ước lượng theo thủ tục hồi quy hai bước và mô hình một bước của Huang và cộng sự (2014) nhằm xác định hiệu quả kỹ thuật (TE), tỷ số khoảng cách công nghệ (TGR hay MTR) đến đường biên meta chung.
- Mô hình đánh giá nhân tố môi trường tác động đến hiệu quả: Sử dụng phương pháp phương trình ước lượng tổng quát (GEE) và mô hình Tobit để phân tích ảnh hưởng của các biến đặc thù (ROA, cường độ vốn K/L, quy mô, nợ...).
- Mô hình chỉ số năng suất Malmquist toàn cầu: Ứng dụng mô hình của Pastor và cộng sự (2005) dựa trên kỹ thuật DEA để phân rã thay đổi TFP thành thay đổi hiệu quả kỹ thuật (EC - bắt kịp đường biên) và tiến bộ công nghệ (TC - dịch chuyển đường biên), đồng thời so sánh với chỉ số Malmquist đương thời.
Nguồn dữ liệu: Bộ dữ liệu mảng không cân bằng thu thập từ Điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2012–2020 và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô từ Niên giám thống kê và Ngân hàng Thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ, NĂNG SUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Chương 1 thiết lập khung lý luận toán kinh tế về công nghệ sản xuất, tập hợp khả năng sản xuất $T$, các tiên đề sản xuất (tính lồi, không hiệu quả, tính vô hạn theo tia, ngoại suy tối thiểu), và hàm khoảng cách Shephard. Tác giả trình bày toán học cho hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFA) theo Aigner, Lovell, Schmidt (1977) và Meeusen, van den Broeck (1977) với cấu trúc sai số hỗn hợp $\varepsilon_i = v_i - u_i$, phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (ML), cùng mô hình mảng với hiệu ứng biến đổi theo thời gian của Battese và Coelli. Tiếp đó, tác giả trình bày mô hình hạch toán tăng trưởng Solow (1956, 1957) và lý thuyết phân rã TFP phi tham số qua chỉ số khoảng cách Malmquist (Caves và cộng sự, 1982; Färe và cộng sự, 1994). Tác giả làm rõ các khái niệm cấu trúc sở hữu theo tỷ lệ vốn (tập trung, phân tán), hình thức pháp lý và nguồn gốc vốn (nhà nước, tư nhân, FDI). Chương này tổng quan các công trình quốc tế và trong nước, chỉ ra các khoảng trống và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày chi tiết các mô hình phân tích thực nghiệm:
- Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định thống kê cho giả thuyết $H_{01}$ (các nhóm sở hữu có thể gộp chung đường biên công nghệ hay không).
- Xây dựng mô hình đường biên meta ngẫu nhiên theo thuật toán của Huang và cộng sự (2014) nhằm giải quyết hạn chế thiếu tính chất thống kê của phương pháp O'Donnell và cộng sự (2008).
- Mô hình đánh giá các yếu tố môi trường tác động đến mức độ không hiệu quả kỹ thuật thông qua hồi quy Tobit và mô hình phương trình ước lượng tổng quát (GEE).
- Xây dựng cấu trúc giải thuật cho chỉ số Malmquist toàn cầu (Pastor và cộng sự, 2005) thông qua tập công nghệ toàn cầu $S^G = \text{conv}(S^1 \cup S^2 \cup \dots \cup S^T)$, chứng minh các tính chất giải quyết triệt để tính không khả thi và đảm bảo tính tuần hoàn (circularity).
- Thiết lập hệ thống biến số cho mô hình: đầu ra (giá trị gia tăng VA, doanh thu), đầu vào (lao động L, vốn K, đầu vào trung gian) và các biến môi trường (tỷ suất sinh lời ROA, tỷ số vốn trên lao động K/L, nợ phải trả, độ tuổi doanh nghiệp).
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO TRONG THỜI KỲ 2012-2020
Chương 3 phân tích thực trạng phát triển ngành chế biến, chế tạo Việt Nam giai đoạn 2012–2020 theo 3 khối sở hữu thông qua thống kê mô tả, hệ thống đồ thị và ma trận tương quan:
- Biến động theo thời gian của các chỉ tiêu chủ yếu (doanh thu, giá trị gia tăng VA, vốn, lao động, lợi nhuận, nợ phải trả, chi phí đầu vào trung gian) trong từng khu vực: DNNN, DNTN và FDI.
- Phân tích cơ cấu sở hữu cho thấy sự dịch chuyển tỷ trọng các chỉ tiêu giữa 3 khu vực; trong đó khu vực FDI và tư nhân mở rộng quy mô đóng góp, còn khu vực nhà nước thu hẹp về số lượng do tiến trình tái cơ cấu và cổ phần hóa.
- Phân tích tương quan giữa các biến số kinh tế qua các bảng ma trận tương quan: Toàn ngành (Bảng 3.1), DNNN (Bảng 3.2), DNTN (Bảng 3.3) và DN FDI (Bảng 3.4).
CHƯƠNG 4: CÁC KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU
Chương 4 trình bày các kết quả thực nghiệm định lượng chi tiết:
- Thống kê mô tả toàn mẫu và theo từng nhóm sở hữu (Bảng 4.1 đến Bảng 4.4).
- Kết quả kiểm định giả thuyết $H_{01}$ (Bảng 4.5): Bác bỏ giả thuyết ba loại hình sở hữu có chung đường biên công nghệ, khẳng định các nhóm doanh nghiệp sở hữu khác nhau vận hành trên các công nghệ và hàm sản xuất khác nhau. Kiểm định dạng hàm khẳng định dạng loga siêu việt (Translog) phù hợp hơn Cobb-Douglas.
- Ước lượng đường biên nhóm và đường biên meta theo Huang và cộng sự (2014) (Bảng 4.6, Bảng 4.14): Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE), tỷ số khoảng cách công nghệ (TGR), hiệu quả quy mô, hệ số co giãn đầu vào và tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên TRS (Bảng 4.7, 4.8, 4.9, 4.10, 4.11).
- Kết quả từ mô hình GEE (Bảng 4.12) và Tobit (Bảng 4.13) đánh giá tác động của các biến môi trường: Tỷ suất sinh lời ROA và cường độ vốn (K/L) có ảnh hưởng đáng kể đến việc cải thiện hiệu quả của doanh nghiệp tư nhân và FDI.
- Kết quả phân rã chỉ số năng suất Malmquist toàn cầu giai đoạn 2012–2020 cho từng nhóm DNNN (Bảng 4.15), DNTN (Bảng 4.16), DN FDI (Bảng 4.17) và bảng so sánh tổng hợp giữa Malmquist toàn cầu với Malmquist đương thời (Bảng 4.18).
Hệ thống bảng biểu và nội dung tương ứng trong chương thực nghiệm được tổng hợp như sau:
| Ký hiệu bảng |
Nội dung thể hiện trong văn bản luận án |
| Bảng 3.1 – 3.4 |
Ma trận tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế toàn mẫu và từng nhóm sở hữu (DNNN, DNTN, FDI) |
| Bảng 4.1 – 4.4 |
Thống kê mô tả các biến của toàn mẫu và từng nhóm doanh nghiệp (DNNN, DNTN, FDI) |
| Bảng 4.5 |
Kết quả kiểm định giả thuyết $H_{01}$ về đường biên công nghệ và kiểm định dạng hàm |
| Bảng 4.6, 4.14 |
Ước lượng đường biên nhóm và đường biên meta ngẫu nhiên theo thuật toán Huang và cs (2014) |
| Bảng 4.7, 4.10, 4.11 |
Thống kê hiệu quả kỹ thuật (TE), tỷ số khoảng cách công nghệ (TGR/MTR) và TRS qua các năm |
| Bảng 4.8, 4.9 |
Đóng góp của vốn, lao động vào tăng trưởng đầu ra; hiệu quả theo quy mô (CRS, VRS) |
| Bảng 4.12, 4.13 |
Ước lượng mô hình GEE và Tobit đánh giá tác động của nhân tố môi trường đến hiệu quả |
| Bảng 4.15 – 4.17 |
Phân rã tăng trưởng TFP thành thay đổi hiệu quả (EC) và kỹ thuật (TC) cho DNNN, DNTN, FDI |
| Bảng 4.18 |
So sánh phân rã TFP bằng mô hình Malmquist toàn cầu và mô hình Malmquist đương thời |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, nghiên cứu chứng minh cấu trúc sở hữu chi phối hành vi ra quyết định chiến lược và công nghệ của doanh nghiệp. Luận án bác bỏ quan điểm truyền thống coi các loại hình sở hữu có chung đường biên công nghệ, thiết lập cơ sở phương pháp luận kiểm định sự đồng nhất công nghệ trước khi ước lượng hàm sản xuất.
Về mặt thực nghiệm, luận án đưa ra 7 đóng góp và phát hiện chính:
- Chứng minh thực nghiệm sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả và khoảng cách công nghệ giữa 3 nhóm sở hữu (nhà nước, tư nhân, FDI) qua mô hình đường biên meta, cung cấp thước đo cụ thể về khoảng cách công nghệ của doanh nghiệp trong nước so với khối FDI.
- Phân tích đóng góp của các yếu tố đầu vào cho thấy tăng trưởng đầu ra của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo vẫn dựa chủ yếu vào yếu tố lao động, phản ánh mặt bằng công nghệ chung còn lạc hậu.
- Phân tích hiệu quả theo quy mô chỉ ra doanh nghiệp nhà nước không nên tiếp tục mở rộng quy mô cơ học mà cần tập trung tái cơ cấu nguồn vốn và tài sản, trong khi doanh nghiệp tư nhân và FDI có dư địa khai thác lợi thế quy mô.
- Xác định vai trò quyết định của khả năng sinh lời (ROA) và cường độ vốn (K/L) trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật tại khối tư nhân và FDI.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm phân rã TFP bằng chỉ số Malmquist toàn cầu, phản ánh rõ sự phân hóa tăng trưởng năng suất giữa các nhóm sở hữu qua các năm, đặc biệt trong giai đoạn chịu tác động của đại dịch Covid-19.
- Xác định nguyên nhân sụt giảm tăng trưởng năng suất của khối doanh nghiệp nhà nước bắt nguồn từ việc chậm đổi mới công nghệ và khả năng thích ứng thị trường kém, làm cơ sở khoa học để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn.
- Ghi nhận xu hướng cải thiện hiệu quả kỹ thuật hướng tới đường biên sản xuất tối ưu ở cả ba khối sở hữu, chứng minh nỗ lực nội tại của doanh nghiệp trong tối ưu hóa nguồn lực.
Về giải pháp và khuyến nghị, luận án đề xuất các nhóm chính sách:
- Đẩy mạnh tái cơ cấu, hoàn thiện thể chế quản trị và thúc đẩy cổ phần hóa thực chất tại các doanh nghiệp nhà nước; loại bỏ sự phụ thuộc vào ưu đãi nguồn lực.
- Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư chiều sâu, gia tăng cường độ vốn và chuyển đổi từ thâm dụng lao động sang công nghệ có giá trị gia tăng cao.
- Điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng có chọn lọc, tăng cường mối liên kết và lan tỏa công nghệ giữa doanh nghiệp FDI với chuỗi cung ứng trong nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo trình bày của tác giả tại phần kết luận và phương pháp:
- Hạn chế về số liệu: Luận án phải thay đổi mẫu điều tra, chuyển từ mẫu kết hợp điều tra công nghệ chuyên sâu giai đoạn 2012–2018 sang mẫu Điều tra doanh nghiệp thông thường giai đoạn 2012–2020, do đó một số biến số chuyên biệt về trình độ công nghệ chi tiết chưa được phản ánh đầy đủ.
- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hiệu quả kỹ thuật và TFP kinh tế truyền thống, chưa tích hợp được các biến số đầu ra không mong muốn liên quan đến môi trường (như phát thải khí nhà kính $CO_2$ theo hướng chỉ số Malmquist-Luenberger toàn cầu GMLPI) do hạn chế dữ liệu môi trường cấp doanh nghiệp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phân tích mối quan hệ liên kết và tác động lan tỏa năng suất từ khu vực FDI sang khu vực tư nhân trong nước; ứng dụng các mô hình đo lường năng suất xanh khi có nguồn dữ liệu môi trường chuẩn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Toán kinh tế, Kinh tế lượng và Kinh tế phát triển: Tham khảo quy trình mô hình hóa đường biên meta ngẫu nhiên (stochastic metafrontier) của Huang và cs (2014) và phương pháp tính toán chỉ số Malmquist toàn cầu (Pastor và cs, 2005) trong môi trường dữ liệu bảng lớn.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Ban Quản lý vốn nhà nước: Sử dụng các bằng chứng định lượng về hiệu quả quy mô, khoảng cách công nghệ và nguyên nhân suy giảm TFP của khối DNNN để hoàn thiện chiến lược cổ phần hóa và định hướng phát triển ngành chế biến, chế tạo.
- Giám đốc điều hành và các nhà quản trị doanh nghiệp: Tham khảo các phân tích về tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (TRS), cường độ vốn và năng suất để định hình quyết định đầu tư công nghệ và tối ưu hóa quy mô sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án không sử dụng mô hình hồi quy OLS hay FEM/REM truyền thống để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu?
Các phương pháp hồi quy truyền thống đưa biến cấu trúc sở hữu vào mô hình dưới dạng các biến giả độc lập, ngầm định rằng tất cả các loại hình sở hữu đều có chung một hàm sản xuất và đường biên công nghệ. Cách làm này không giải quyết được tính không đồng nhất về công nghệ giữa các nhóm sở hữu và bỏ qua vấn đề nội sinh.
2. Giả thuyết $H_{01}$ trong luận án kiểm định nội dung gì và kết quả ra sao?
Giả thuyết $H_{01}$ kiểm định xem đường biên công nghệ của ba nhóm doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân và FDI) có thể gộp chung lại được hay không. Kết quả kiểm định tại Bảng 4.5 đã bác bỏ giả thuyết $H_{01}$, khẳng định ba nhóm sở hữu vận hành trên ba đường biên công nghệ riêng biệt.
3. Ưu điểm nổi bật của chỉ số năng suất Malmquist toàn cầu (Global Malmquist Index) so với chỉ số Malmquist truyền thống là gì?
Chỉ số Malmquist toàn cầu do Pastor và cộng sự (2005) đề xuất xây dựng một đường biên công nghệ chung duy nhất từ toàn bộ dữ liệu của tất cả các thời kỳ, giúp thỏa mãn tính tuần hoàn, tạo ra một thước đo duy nhất về sự thay đổi năng suất, cho phép đánh giá sự suy giảm kỹ thuật và giải quyết dứt điểm hiện tượng bài toán quy hoạch tuyến tính không có nghiệm khả thi.
4. Yếu tố đầu vào nào đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng đầu ra của ngành chế biến, chế tạo trong giai đoạn 2012–2020?
Theo kết quả phân tích tại Bảng 4.8, tăng trưởng đầu ra của các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu dựa vào gia tăng yếu tố lao động, trong khi đóng góp của vốn và tiến bộ công nghệ còn hạn chế, cho thấy mặt bằng công nghệ chung của ngành vẫn thâm dụng lao động.
5. Luận án khuyến nghị chiến lược quy mô đối với khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như thế nào?
Kết quả phân tích hiệu quả theo quy mô tại Bảng 4.9 cho thấy các DNNN không nên tiếp tục mở rộng quy mô cơ học mà cần tập trung tái cơ cấu, tinh gọn tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và tài sản sẵn có.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Triệu Tất Đạt đã hoàn thành trọn vẹn việc giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đặt ra thông qua việc kết hợp mô hình đường biên meta ngẫu nhiên và chỉ số Malmquist toàn cầu trên bộ dữ liệu doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Việt Nam giai đoạn 2012–2020. Kết quả thực nghiệm đã bác bỏ giả định về sự đồng nhất công nghệ giữa các thành phần kinh tế, đồng thời lượng hóa chính xác hiệu quả kỹ thuật, khoảng cách công nghệ và phân rã các nguồn tăng trưởng TFP của từng khối sở hữu. Đây là công trình toán kinh tế thực nghiệm có chất lượng học thuật cao, cung cấp cơ sở khoa học xác thực cho công tác hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp và quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.