Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu chung về đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến sự phát triển ngành du lịch Trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các khái niệm có liên quan và tổng quan một số đề tài nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong phân tích và mô tả dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày thực trạng phát triển du lịch Bình Định.
Trình bày các kết quả nghiên cứu nhằm phân tích tác động của nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Định và thảo luận các kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Tóm lược lại các kết quả nghiên cứu quan trọng của đề tài, từ đó đề xuất những kiến nghị về chính sách quản lý để tạo điều kiện phát triển du lịch tỉnh Bình Định. Downloaded by van Nguyen (hacngocbachvan.com) lOMoARcPSD|38146348 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH 2.1 Khái niệm về du lịch. Tại hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma – Italia ( 21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Theo Jafari (1977), du lịch là hoạt động con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên, hoạt động này chịu sự tác động của văn hóa- xã hội, kinh tế và môi trường. Đồng tình với quan điểm cho rằng du lịch là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên, Leiper (1997) đã bổ sung thêm thời gian đi có thể là một hoặc nhiều đêm và không nhằm mục đích kiếm tiền. Theo Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các Cơ quan Lữ hành (IUOTO), du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization) cho rằng du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn hay mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Theo UNWTO định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác”. Theo luật Du lịch (2017), du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Như vậy, tùy thuộc vào quan điểm và góc độ tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm du lịch theo Downloaded by van Nguyen (hacngocbachvan.com) lOMoARcPSD|38146348 6 luật Du lịch năm 2017.
Du lịch là hoạt động thực hiện chuyến đi của con người đến một vùng đất khác, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thăm quan, nghỉ dưỡng, giải trí ở những khu du lịch.2 Khái niệm về khách du lịch. Căn cứ vào nội hàm của khái niệm du lịch, khách du lịch có thể được xác định dựa vào các hoạt động của họ, du khách là những người có các các hoạt động liên quan đến một kỳ nghỉ xa và rời khỏi nơi cư trú thường xuyên ít nhất một đêm (Leiper, 1979) Theo McCabe (2005) nhận định khách du lịch là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cư trú. Theo Phạm Thị Khánh Ngọc (2017) nhận định khách du lịch là những người trực tiếp sử dụng dịch vụ du lịch. Trong nghiên cứu này, khái niệm khách du lịch được định nghĩa theo khoản 2 điều 3 của luật Du lịch (2017), khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.
Cụ thể, các loại khách du lịch này được định nghĩa như sau: (1) Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam; (2) Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; (3) Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài.3 Khái niệm về sản phẩm du lịch. Theo Trương Thị Thu (2011) nhận định rằng sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều yếu tố hợp thành, cung cấp cho thị trường chủ yếu ở các mặt: nhà ở, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác. Phạm Thị Thanh Thúy (2012) định nghĩa theo nghĩa rộng: Từ giác độ thỏa mãn chung của sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch là sự kết hợp các dịch vụ hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực tại một cơ sở, một vùng, địa phương hay của một quốc gia. Theo nghĩa hẹp: Từ giác độ thỏa mãn đơn lẻ từng nhu cầu đi du lịch, sản phẩm du lịch là sản phẩm hàng hóa cụ thể thỏa mãn các nhu cầu khi đi du lịch của con người.
Có nghĩa là bất cứ cái gì có thể mang ra trao đổi để thỏa mãn mong muốn của khách du lịch. Bao gồm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Ví dụ: món ăn, đồ uống, chỗ ngồi trên phương tiện vận chuyển, buồng ngủ, tham quan, hàng lưu niệm. Downloaded by van Nguyen (hacngocbachvan.com) lOMoARcPSD|38146348 7 Theo khoản 5 điều 3 của luật Du lịch (2017), sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.
Đây là khái niệm được tác giả chọn sử dụng trong bài. Khái niệm về phát triển du lịch. Theo Trương Thị Thu (2011) xác lập nội hàm của phát triển du lịch như sau: Đó là sự gia tăng số lượng du khách và doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch. Vai trò của phát triển du lịch.
- Vai trò trong phát triển kinh tế Ngành du lịch đóng góp một phần đáng kể trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với Việt Nam, ngành Du lịch hiện nay được xem như là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn; được chú trọng đầu tư; không ngừng phát triển và có những đóng góp tích c`ực vào nền kinh tế quốc gia. Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển theo như giao thông vận tải; bưu chính viễn thông; bảo hiểm; dịch vụ tài chính; dịch vụ lưu trú và ăn uống. Ngành du lịch phát triển cũng đem lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn; từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân.
Du lịch quốc tế phát triển đem lại nguồn lợi từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động xuất khẩu tại chỗ và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Ngoài ra, du lịch quốc tế phát triển cũng giúp củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới cũng như thúc đẩy phát triển giao thông quốc tế. - Vai trò trong phát triển xã hội Ngành Du lịch tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt tạo ra cơ hội việc làm lớn cho các lao động nữ, giải quyết việc làm cho nhiều người dân vùng nông thôn; tạo nên những chuyển biến tích cực trong xã hội; nâng cao mức sống của người dân và vị thế của phụ nữ trong xã hội. Ngoài ra, còn góp phần giảm quá trình đô thị hóa khi giúp cân bằng lại sự phân bố dân cư và hệ thống cơ sở hạ tầng từ đô thị về nông thôn trong quá trình phát triển du lịch.
Nhờ đó hạn chế được những tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra. Du lịch phát triển giúp truyền bá văn hóa với hình ảnh đất nước; con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế; đồng thời cũng là phương tiện quảng bá hàng hóa Việt Nam ra thị trường nước ngoài hiệu quả. Thúc đẩy và tạo cơ hội cho việc giao lưu; trao đổi giữa các nền văn hóa trên thế giới. Mặt khác, du lịch cũng đóng góp một phần tích cực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa và thúc đẩy các hoạt động văn hóa có quy mô và chất lượng.
Sự ra đời của ngành Du lịch là bước ngoặt lịch sử đối với sự phát triển của cả thế giới. Ngành Du lịch không chỉ tạo tiền đề Downloaded by van Nguyen (hacngocbachvan.com) lOMoARcPSD|38146348 8 cho sự ra đời của nhiều ngành dịch vụ mới; tạo thêm cơ hội việc làm cho một số lượng người lao động khổng lồ; đồng thời giúp quảng bá nền văn hóa của các quốc gia, dân tộc khác nhau. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển du lịch. Theo thông tư số 11/2021 của Bộ VHTT&DL quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành văn hóa, thể thao và du lịch.