chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến quyết định lựa chọn DNKT của các DN, các mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn này. Mục tiêu của chương giúp cung cấp những luận giải cần thiết và tạo nền tảng để đề tài có thể kế thừa về cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, tổng quan nghiên cứu còn giúp tác giả biết được quá trình hình thành và phát triển của các hướng nghiên cứu trước từ đó xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng cho nghiên cứu này. TỔNG QUAN CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến việc có nên sử dụng dịch vụ KT hay không và nếu xác định sử dụng dịch vụ KT thì các tiêu chí sẽ tác động đến việc lựa chọn DNKT nào.
Hiện tại các nghiên cứu tập trung vào những nội dung chính của hoạt động KT gồm: • Lý giải và khái quát hóa những yếu tố, nhóm yếu tố tác động đến việc thực hiện hoặc không thực hiện KT BCTC của nhóm khách thể tự nguyện. • Yếu tố, nhóm yếu tố nào có tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ KT BCTC các nhà quản lý DN. • Phân tích những lợi ích đạt được và chi phí bỏ ra đối với DN khi sử dụng dịch vụ KT BCTC. • Nếu đã thực hiện KT, đối tượng sử dụng sẽ lựa chọn dịch vụ KT có chất lượng thế nào và có tiếp tục lựa chọn DNKT đó trong những năm tiếp theo hay không? Nguyên nhân nào dẫn đến lựa chọn đó? Để luận giải những nội dung trên, các nghiên cứu chủ yếu đi theo ba quan điểm chính.
Hướng nghiên cứu dựa trên yếu tố về trình độ nhận thức và quan điểm của nhà quản lý DN Căn cứ vào yếu tố về trình độ nhận thức và quan điểm của các nhà quản lý DN – người trực tiếp đưa ra quyết định – theo đó lập luận rằng mỗi quyết định được đưa ra, DN phải tự cân nhắc giữa lợi ích và chi phí mà quyết định đó mang lại và dịch vụ KT cũng không ngoại lệ. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào vấn đề đánh giá nhận thức của đối tượng khảo sát ở đây chính là chủ DN (nhà quản lý) – những người đưa ra quyết định về việc có sử dụng dịch vụ KT BCTC hay không và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định này. Những nghiên cứu này đã bước đầu xây dựng và mở rộng cơ sở lý thuyết khi dựa trên nhận định về nhu cầu – động cơ – hành vi trước khi ra quyết định (Hà Hồng Hạnh, 2018). Collis & Jarvis (2004) là một trong những tác giả đầu tiên theo hướng nghiên cứu này ở Vương quốc Anh.
Chính phủ Anh không còn bắt buộc các DN tư nhân phải thực hiện dịch vụ KT, đặc biệt đối với các DN nhỏ không vượt quá doanh thu quy định. Vậy tại sao lại có nhiều công ty tự nguyện sử dụng dịch vụ KT? Trước khi sử dụng dịch vụ KT BCTC, chủ DN cần nhận thức được những lợi ích mà KT mang lại và cân nhắc giữa những lợi ích này với chi phí xem xét xem liệu có nên thực hiện KT hay không. Như vậy chỉ cần chủ DN nhận thức được vai trò quan trọng của KT thì họ sẽ tự nguyện sử dụng dịch vụ KT BCTC. Hồ Thị Thúy Nga & Hồ Quốc Dũng (2010) nghiên cứu về nhu cầu sử dụng các dịch vụ kiểm toán bên ngoài của doanh nghiệp trên địa bàn Thừa Thiên Huế, nghiên cứu được thực nghiệm trên 85 DN trên địa bàn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm toán vẫn tập trung vào các DN có quy mô vừa và lớn và là loại hình công ty cổ phần với mục đích sử dụng vẫn là do quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều DN vẫn nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ kiểm toán và tự nguyện sử dụng DVKT. Đây là cơ sở để các nhà cung cấp DVKT có chiến lược mở rộng thị trường của mình đến với các khách hàng tiềm năng. 9 Zerni & cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu xem xét việc quyết định tự nguyện sử dụng dịch vụ KT của các công ty tại Anh.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các DN nhận thức được những lợi ích mà KT mang lại cho bản thân DN họ như: nâng cao xếp hạng tín dụng, giảm nguy cơ vỡ nợ, thu hút được nhiều nhà đầu tư và đặc biệt, chất lượng cũng như uy tín của các DNKT cũng góp phần đảm bảo cho những thông tin tài chính của DN. Hà Hồng Hạnh (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ KT BCTC của các DN vừa và nhỏ tại Việt Nam đưa ra các yếu tố: nhận thức về lợi ích của KT, các bên liên quan, chuẩn mực chủ quan, sự giới thiệu, giá phí KT và quy mô DN. Sau khi thực hiện nghiên cứu bằng cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng đã chứng minh tất cả các yếu tố trên đều có ảnh hưởng. Lưu Chí Danh (2019) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn DNKT của DN tại TP.
Hồ Chí Minh, nghiên cứu trên mẫu gồm 138 DN trên địa bàn và đưa ra mô hình gồm các nhân tố: (1) Giá phí dịch vụ, (2) Tâm lý của khách thể nghiên cứu, (3) Chất lượng KTV, (4) Môi trường pháp lý, (5) Lợi ích KT. Kết quả cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn KT bao gồm: (1) Giá phí dịch vụ, (2) Tâm lý của khách thể nghiên cứu, (3) Chất lượng KTV và (4) Lợi ích KT. Hướng nghiên cứu về chất lượng KT, danh tiếng DNKT, giá phí KT Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KT BCTC thường bắt đầu từ những yếu tố thuộc về đặc điểm của DNKT bao gồm chất lượng KT, danh tiếng, giá phí của DNKT. Bộ tài chính đã ban hành bộ Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam, trong đó quy định về chất lượng KT như sau: “Chất lượng hoạt động KT là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả KT về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến KT của KTV, đồng thời thỏa mãn mong muốn của các đối tượng được KT về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”.
10 DeAngelo (1981) cũng đưa ra định nghĩa về chất lượng dịch vụ KT dựa trên việc đánh giá DNKT trên 2 khía cạnh. Thứ nhất là việc DNKT có phát hiện ra những sai phạm của khách hàng hay không? Và thứ hai là việc DNKT có thực hiện báo cáo những sai phạm này hay không? Ông cho rằng do không thể quan sát được chất lượng KT nên có thể đưa ra một số yếu tố nhằm đánh giá chất lượng KT đó là: quy mô, danh tiếng hoặc số lượng khách hàng của DNKT. Đối với những DNKT lớn thường họ sẽ cung cấp một cuộc KT có chất lượng. Revier & Schroé (2010) cho rằng các DNKT có chất lượng KT cao là các DN có danh tiếng hoặc quy mô lớn như Big 4.
Những DNKT lớn thường có số lượng khách hàng đông đảo, do đó ít phụ thuộc vào một lượng khách hàng cụ thể và hạn chế được những sai lầm trong công tác KT của mình. Các nghiên cứu cho thấy Big4 là những DNKT có danh tiếng, thương hiệu, tương ứng với mức giá phí cao nhất so với các DNKT còn lại. Và chính điều này tạo nên uy tín và thương hiệu của họ. KT là một trong những dịch vụ đặc biệt, và việc đo lường chất lượng KT không đơn giản như việc quan sát hay kiểm tra chất lượng của những sản phẩm thông thường.
Do vậy, những người sử dụng thường phải tìm hiểu các yếu tố cấu thành nên chất lượng KT để có thể đưa ra được quyết định lựa chọn và sử dụng dịch vụ KT. Đồng thời, những người cung cấp dịch vụ KT cũng phải biết được yêu cầu của một cuộc KT chất lượng là như thế nào để mang lại sự hài lòng cho khách hàng của mình. Hà Thị Ngọc Hà & Lê Thị Tuyết Nhung (2012) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng KT, kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 yếu tố ảnh hưởng gồm: Quy mô DNKT, mức độ chuyên sâu từng lĩnh vực KT (chuyên ngành), nhiệm vụ của KTV, giá phí KT và thời gian thực hiện KT, phạm vi của dịch vụ KT cung cấp, phương pháp luận KT và tính cách của KTV, kiểm soát chất lượng dịch vụ cung cấp. Các nghiên cứu đều chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô DNKT và chất lượng dịch vụ KT.
Cụ thể, đối với các DNKT có quy mô lớn thường có uy tín cao trên thị trường KT, đi cùng với đó là chất lượng KT cũng vượt trội hơn so với các DNKT còn lại. Khi các 11 công ty lựa chọn các DNKT này, BCTC của họ được xem là đáng tin cậy hơn đối với nhà đầu tư cũng như người sử dụng kết quả KT. Giá phí KT là một trong các yếu tố quan trọng đối với DN trong việc quyết định lựa chọn DNKT, đặc biệt là đối với tâm lý của các DN tại Việt Nam. Theo một số khảo sát cho thấy, chi phí KT trả cho Big4 cao hơn chi phí phải trả cho các DNKT còn lại.
Bên cạnh đó, các nghiệp vụ liên quan trong việc KT BCTC như sự tư vấn, hỗ trợ hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong DN cũng được bao gồm trong giá phí của cuộc KT. Như vậy, có thể thấy, nếu công ty lựa chọn DNKT thuộc Big4, đồng nghĩa với việc lựa chọn một DNKT có chất lượng, danh tiếng, uy tín cũng như giá phí cao so với các DNKT còn lại. Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của các đặc điểm nội bộ DN đến quyết định lựa chọn DNKT Đặc điểm nội bộ của DN được thể hiện thông qua các đặc điểm: quy mô, nhu cầu tài chính, nhu cầu vay nợ, cơ cấu nguồn vốn, số lượng các giao dịch nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tính phức tạp trong hoạt động của DN. Sau đây là tổng hợp các nghiên cứu từ các tác giả nước ngoài và các tác giả trong nước.
Nghiên cứu của DeAngelo (1981) Tiên phong cho hướng nghiên cứu này được thực hiện vào năm 1981.