PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội hiện đại, trình độ khoa học là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ (KH&CN), các nƣớc trên thế giới đều tìm cách tăng cƣờng năng lực quốc gia trong lĩnh vực này thông qua các chính sách hỗ trợ đầu tƣ dành cho các cá nhân và tổ chức KH&CN. Doanh nghiệp khởi nghiệp luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ với phát triển kinh tế của một quốc gia.
Bởi vì doanh nghiệp là một trong những thành phần kinh tế chủ lực đóng góp to lớn vào tăng trƣởng kinh tế, giảm đói nghèo và giải quyết vấn đề việc làm. Mặc dù, doanh nghiệp khởi nghiệp và vai trò doanh nhân luôn đƣợc đề cao, song Việt Nam hiện đang là nƣớc có tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp rất thấp so với các nƣớc trong khu vực. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều mô hình cơ sở ƣơm tạo doanh nghiệp công nghệ nhƣ: mô hình đơn sở hữu, đa sở hữu; công lập, tƣ nhân; phát triển cơ sở ƣơm tạo thông qua hỗ trợ của mạng lƣới các doanh nghiệp; hợp tác quốc tế; mô hình cơ sở ƣơm tạo tại trƣờng đại học,… Sự phát triển và thành công của mô hình cơ sở ƣơm tạo doanh nghiệp công nghệ tại các nƣớc trên thế giới nhƣ Trung Quốc, Thụy Điển, Mỹ,… và ngay tại quốc gia trong khu vực nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… đã chứng minh vai trò tích cực của mô hình cơ sở ƣơm tạo. Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt đƣợc những tiến bộ đáng kể về hoạch định các chính sách nhằm phát triển hoạt động khoa học và công nghệ, để thông qua đó, phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, có một khoảng cách không nhỏ giữa hoạt động R&D và sản xuất khiến hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ của Việt Nam không cao. Hiện nay, ở Việt Nam, công nghệ tiên tiến chủ yếu thuộc các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Khối doanh nghiệp trong nƣớc có trình độ công nghệ lạc hậu khá cao. Thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mới chỉ dành khoảng 0,4% doanh thu hàng năm cho công tác đổi mới công nghệ trong khi tại Hàn Quốc là 10%.
Theo thống kê của Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam, có đến hơn 80% máy móc sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa đƣợc sản xuất cách đây 30 năm [Ban Kinh tế Trung ƣơng, 2016]. Việc sử dụng máy móc, công nghệ lạc hậu nhƣ hiện nay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao năng suất, chất lƣợng sản phẩm, nhất là trong bối cảnh hội nhập nhƣ hiện nay. Điều này đòi hỏi phải tiến hành một bƣớc tiếp theo là khâu “ƣơm tạo”, để giúp các doanh nghiệp công nghệ mới lớn mạnh, đạt tới quy mô thƣơng mại. Và vai trò của các cơ sở cung cấp dịch vụ ƣơm tạo doanh nghiệp công nghệ, hay còn gọi là “Cơ sở ƣơm tạo” hoặc “Vƣờn ƣơm doanh nghiệp” (Business Incubator - BI) đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Hoạt động ƣơm tạo doanh nghiệp là một lĩnh vực còn khá mới lạ với Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, thực tế, ở Việt Nam, khái niệm này mới chỉ đƣợc nhắc đến trong một vài năm trở lại đây. Bên cạnh đó, lực lƣợng lao động của Việt Nam sau khi tốt nghiệp đại học có tỷ lệ thất nghiệp tƣơng đối lớn. Trong báo cáo Giám sát doanh nhân toàn cầu 2013, tỉ lệ ngƣời trƣởng thành ở Việt Nam có ý định khởi trong vòng 3 năm tới cũng ở mức rất thấp (24,1%), thấp hơn mức trung bình là 44,7% so với các nƣớc phát triển [GEM, 2014]. Theo số liệu từ Bản tin khảo sát thị trƣờng lao động quý 2/2018, đƣợc Bộ LĐ- TB&XH và Tổng cục Thống kê tính đến tháng 6/2018, số lƣợng ngƣời có trình độ đại học thất nghiệp 126 900 ngƣời, giảm 15 400 ngƣời so năm 2017 [Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục Thống kê, 2018].
Điều này cho thấy tình trạng thất nghiệp ở sinh viên có tín hiệu giảm tuy nhiên tỷ lệ sinh viên thất nghiệp còn rất lớn. Do vậy, việc đƣa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và “tƣ duy làm chủ” trong sinh viên nói riêng và các tầng lớp dân cƣ nói chung trở nên cấp bách hơn bao giờ hết nhằm giảm bớt áp lực về vấn đề việc làm cho xã hội. Năm 2016 đƣợc coi là năm “quốc gia khởi nghiệp” với rất nhiều ý tƣởng đến từ thế hệ thanh niên. Tuy nhiên, trƣớc làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ đó cũng có rất nhiều trƣờng hợp bạn trẻ đã khởi nghiệp thất bại và từ bỏ.
Vậy câu hỏi đặt ra là trong quá trình khởi nghiệp các startup gặp khó khăn gì và tại sao họ lại lựa chọn sử dụng dịch vụ tại cơ sở cung cấp dịch vụ về ƣơm tạo doanh nghiệp (hay còn gọi là là cơ sở ươm tạo) này? Chính vì vậy, việc đánh giá “Các yếu tố tác động đến hoạt động sử dụng dịch vụ ươm tạo của thanh niên khởi nghiệp” sẽ góp phần quan trọng trong việc đƣa ra một “bức tranh toàn cảnh” về khởi nghiệp dƣới góc nhìn của thanh niên đang trong quá trình khởi nghiệp và sử dụng dịch vụ tại các cơ sở ƣơm tạo ở Việt Nam từ đó tạo cơ sở để có thể đƣa ra các giải pháp góp phần cải thiện môi trƣờng cho hoạt động khởi nghiệp của thanh niên hiện nay. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về thanh niên khởi nghiệp và cơ sở ƣơm tạo là một lĩnh vực mới tại Việt Nam hiện nay. Với sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp khởi nghiệp và sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, năm 2016 đƣợc Chính phủ lấy là năm “quốc gia khởi nghiệp” và phê duyệt đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
Lĩnh vực khởi nghiệp đƣợc nhiều tác giả quan tâm và nhiều bài báo, nghiên cứu đƣợc công bố. Trong pham vi luận văn, tổng quan kết quả nghiên cứu tập trung làm rõ một số nội dung: (1) Nghiên cứu về thanh niên khởi nghiệp; (2) Nghiên cứu về các yếu tố tác động lựa chọn dịch vụ; (3) Nghiên cứu về ƣơm tạo doanh nghiệp; (4) Khung pháp lý của Việt Nam về hỗ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Những nghiên cứu về thanh niên khởi nghiệp 2. Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài Nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (2006) về “Stimulating youth entrepreneurship : barriers and incentives to enterprise start-ups by young people” đã phân tích rào cản và những ƣu đãi đối với doanh nghiệp trẻ do thanh niên khởi nghiệp thông quá việc phân tích thái độ xã hội và văn hóa đối với doanh nhân trẻ, vấn đề giáo dục tin thần kinh thƣơng, tiếp cận nguồn tài chính để khởi nghiệp, khung hành chính và các quy định, các dịch vụ hỗ trợ từ cơ sở ƣơm tạo.
ILO cũng phân tích các động cơ khởi nghiệp của thanh niên là các điều kiện sống và thái độ cá nhân, sự quan tâm và thế mạnh của bản thân. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đƣa ra định hƣớng thiết kế cấu trúc chính sách phát triển doanh nghiệp trẻ, các khuyến nghị từ các doanh nhân trẻ đã khởi nghiệp thành công. Nghiên cứu Driessen và Zwart (2006) trong nghiên cứu “The Entrepreneur Scan Measuring Characteristics and Traits of Entrepreneurs” nhận định về sự tác động của các yếu tố tính cách cá nhân lên khả năng khởi nghiệp. Mô hình đã đƣợc các tác giả phát triển lên thành mô hình E-Scan sau đó để đo lƣờng các tính cách này tác động đến khả năng KNKD của cá nhân và đƣợc khảo sát trên mạng internet toàn cầu.
10 yếu tố tính cách cá nhân tác động đến khả năng khởi nghiệp trong mô hình: Nhu cầu thành đạt, nhu cầu tự chủ, nhu cầu quyền lực, định hƣớng xã hội, sự tụ tin, sự nhẫn nại, chấp nhận rủi ro, khả năng am hiểu thị trƣờng, khả năng sáng tạo, khả năng thích ứng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lee (2006) trong nghiên cứu “Influences on students attitudes toward entrepreneurship: A multi-country study” cho rằng tinh thần khởi nghiệp đƣợc chú trọng ở nhiều quốc gia và đƣợc xem là cách thức để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và tạo việc làm. Sobel & King (2008) trong bài viết “Does school choice increase the rate of youth entrepreneurship?” nhận định khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng để tăng trƣởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ƣu tiên hàng đầu của các nhà chính sách. Các hƣớng tiếp cận chính đến ý định khởi nghiệp gồm (1) chƣơng trình giáo dục, (2) môi trƣờng tác động và (3) bản thân ngƣời học (động cơ, tính cách, tƣ duy, thái độ, giới tính).
Trong nghiên cứu của Gallup (2013) về “How Employee Engagement Drives Growth” cho thấy tiếp cận nguồn vốn và hỗ trợ đào tạo là 2 vấn đề sống còn tới hoạt động khởi nghiệp của thanh niên ở các nƣớc Châu Phi. Kết quả khảo sát 1000 thanh niên từ 15 tuổi trở lên chỉ ra, số thanh niên có cơ hội tiếp cận nguồn vốn và đào tạo có ý tƣởng và kế hoạch khởi nghiệp nhiều hơn số thanh niên không đƣợc tiếp cận cơ hội về đào tạo và nguồn vốn. Tuy nhiên, tỷ lệ thanh niên tiếp cận đƣợc nguồn vốn và đào tạo ở Châu Phi chỉ đạt hơ 23%. Nghiên cứu đƣa ra giải pháp để tạo điều kiên cho thanh niên đƣợc tiếp cận nguồn vốn và đào tạo trƣớc khi khởi nghiệp.
Rae & Woodier-Harris (2013) trong bài báo“How does enterprise and entrepreneurship education influence postgraduate students’ career intentions in the New Era economy?” cho rằng muốn doanh nghiệp có một nền tảng kiến thức tốt và quản lý doanh nghiệp thành công thì cần phải xây dựng chƣơng trình học khởi nghiệp rộng rãi cho sinh viên, cung cấp cho họ kiến thức cần thiết để khởi nghiệp thành công và định hƣớng con đƣờng sự nghiệp đúng đắn. (2014) trong nghiên cứu “The effect of early entrepreneurship education: Evidence from a field experimentp” phân tích hiệu quả của việc giáo dục khởi nghiệp sớm cho các trẻ em tiểu học ở Hà Lan và chứng minh rằng việc đầu tƣ sớm giáo dục khởi nghiệp cho trẻ em 11 hoặc 12 tuổi mang đến hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp.