Tổng quan nghiên cứu

Năm 2016, toàn tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận tỷ lệ 99,45% số xã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở và tỷ lệ bỏ học chung giảm xuống còn 0,72%. Tuy nhiên, khu vực ven biển và miền núi vẫn tồn tại nghịch lý nghiêm trọng khi chiếm tới 78% tổng số học sinh bỏ học toàn tỉnh, trong đó tỷ lệ thanh thiếu niên không đến trường ở độ tuổi 13 là 4,5%, độ tuổi 14 là 5,8% và độ tuổi 15 lên tới 8,5%. Đặc biệt, tại 6 xã ven biển thuộc thành phố Quảng Ngãi (gồm Nghĩa An, Tịnh Khê, Tịnh Kỳ, Tịnh Hòa, Nghĩa Phú và Nghĩa Hà sáp nhập theo Nghị quyết số 123/NQ-CP của Chính phủ), tỷ lệ bỏ học cấp trung học cơ sở dao động từ 6% đến 7% mỗi năm, chiếm tới 90% tổng số học sinh trung học cơ sở bỏ học của toàn thành phố. Đồng thời, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi từ 11 đến 18 chưa tốt nghiệp trung học cơ sở tại đây luôn dưới 75%, khiến khu vực này trở thành địa bàn duy nhất không đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc học này.

Nghiên cứu được triển khai nhằm nhận diện toàn diện các yếu tố cá nhân, hộ gia đình, nhà trường và cộng đồng tác động trực tiếp đến quyết định dừng học của học sinh, từ đó đề xuất các giải pháp chính sách công giảm thiểu tỷ lệ bỏ học sớm một cách bền vững. Phạm vi không gian của đề tài giới hạn tại 6 xã bãi ngang, ven biển thành phố Quảng Ngãi trong giai đoạn thực địa từ tháng 9/2016 đến tháng 7/2017. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để kéo giảm tỷ lệ bỏ học hàng năm từ 6-7% xuống dưới ngưỡng chuẩn quốc gia 1%, giải quyết triệt để nguy cơ thất học liên thế hệ và bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực kinh tế biển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Vốn con người của Gary Becker (1967), xác định việc đi học thêm một năm là quyết định đầu tư kinh tế dựa trên sự so sánh giữa chi phí biên hiện tại và lợi ích biên kỳ vọng trong tương lai. Chi phí biên bao gồm chi phí trực tiếp đến trường cùng chi phí cơ hội từ việc trì hoãn tham gia thị trường lao động. Cá nhân có suất chiết khấu cao hoặc đánh giá thấp suất sinh lợi của giáo dục sẽ có xu hướng rút ngắn thời gian đến trường.

Để giải quyết hạn chế về giả định nguồn lực không giới hạn của Becker, tác giả tích hợp Mô hình Quyết định của hộ gia đình về mức độ giáo dục cho trẻ của Peter Glick và David E. Sahn (2000). Mô hình này xem giáo dục vừa là hàng hóa tiêu dùng vừa là hàng hóa đầu tư nhằm tối đa hóa độ thỏa dụng của phụ huynh trong điều kiện ràng buộc ngân sách gia đình qua hai giai đoạn cuộc đời. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng Lý thuyết Chuyên môn hóa lao động trong gia đình của Dov Chernichovsky (1985), giải thích hiện tượng phụ huynh phân bổ nguồn lực có chọn lọc cho những người con có kết quả học tập nổi trội và rút những trẻ học kém ra khỏi trường để lao động. Bốn khái niệm chính được làm rõ gồm: vốn con người, chi phí cơ hội giáo dục, hiện tượng ngồi nhầm lớp và học sinh bỏ học (xác định là người không tiếp tục đến trường trong vòng 12 tháng trước thời điểm khảo sát).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính chuyên sâu kết hợp thông tin thứ cấp từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi, Chi cục Thống kê và văn bản pháp luật hiện hành. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi kết hợp ghi âm đối chứng trong thời gian 45 đến 60 phút mỗi ca phỏng vấn.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 75 học sinh đã bỏ học (chiếm 30% trong tổng số 251 học sinh bỏ học của toàn địa bàn), 75 phụ huynh đại diện hộ gia đình và 12 chuyên gia quản lý cùng giáo viên tại 6 trường trung học cơ sở. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên các tiêu chí tỷ lệ định trước: giới tính (nam chiếm 61% với 46 học sinh, nữ chiếm 39% với 29 học sinh), khối lớp (lớp 6 chiếm 31%, lớp 7 chiếm 35%, lớp 8 chiếm 23%, lớp 9 chiếm 12%), địa bàn cư trú (xã Nghĩa An 64%, Tịnh Kỳ 16%, Nghĩa Hà 11%, Tịnh Hòa 4%, Nghĩa Phú 4%, Tịnh Khê 3%) và mức sống hộ gia đình (hộ không nghèo 72% với 54 hộ, hộ nghèo và cận nghèo 28% với 21 hộ). Phương pháp định tính được lựa chọn vì tính chất đặc thù của vấn đề, giúp đào sâu cấu trúc tâm lý, quan niệm văn hóa nghề nghiệp và các rào cản hành vi vi mô mà thống kê định lượng thuần túy không thể bao quát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng bỏ học tại 6 xã ven biển thành phố Quảng Ngãi:

Thứ nhất, tình trạng nghèo đói không phải là nguyên nhân chính thúc đẩy trẻ bỏ học. Trái lại, tỷ lệ trẻ bỏ học sớm ở nhóm hộ không nghèo bình quân là 2 trẻ/hộ, cao gấp 1,7 lần so với mức 1,2 trẻ/hộ ở nhóm hộ nghèo và cận nghèo. Có tới 36/54 hộ không nghèo có con bỏ học ngay cấp trung học cơ sở, trong khi 13/21 hộ nghèo vẫn nỗ lực nuôi con theo học cao đẳng, đại học. Chi phí trực tiếp đến trường bậc trung học cơ sở khoảng 1.000.000 đồng/học sinh/năm học không tạo thành gánh nặng tài chính đối với 72% hộ gia đình không nghèo.

Thứ hai, yếu tố giới tính gắn liền với tác động của chính sách nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ nam giới bỏ học chiếm 61% (46/75 trường hợp), vượt trội so với nữ giới (39%). Hiện tượng bỏ học tập trung cao nhất ở ngưỡng chuyển cấp gồm lớp 6 (31%) và lớp 7 (35%). Có 21/33 phụ huynh thừa nhận không khuyến khích con trai quay lại trường nếu nghỉ học dưới lớp 7 nhằm tránh diện gọi nhập ngũ theo Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 140/2015/TT-BQP của Bộ Quốc phòng (quy định địa bàn khó khăn được tuyển chọn công dân có trình độ từ lớp 7 trở lên). Đồng thời, thu nhập đi biển ngắn ngày đạt 300.000 đồng/đêm và đi biển dài ngày đạt 8.000.000 đồng/tháng đã tạo sức hút lao động rất lớn đối với học sinh nam.

Thứ ba, học lực sa sút và hiện tượng ngồi nhầm lớp là nguyên nhân trực tiếp lớn nhất. Có 52/75 học sinh (chiếm 69,3%) bỏ học vì chán học và không theo kịp chương trình. Đáng chú ý, hồ sơ học bạ ghi nhận 50% học sinh bỏ học xếp loại học lực trung bình và 15% xếp loại khá. Có 7/12 giáo viên xác nhận áp lực đạt chuẩn trường quốc gia theo Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT (khống chế tỷ lệ bỏ học dưới 1% và lưu ban dưới 5%) đã khiến nhà trường nâng điểm ảo, đẩy học sinh hổng kiến thức từ tiểu học lên các lớp trên.

Thứ tư, tình trạng lao động sớm và lạm dụng mạng xã hội làm suy giảm sự chuyên cần. 58,67% học sinh (44/75 em) tham gia lao động kiếm sống, trong đó 38 em làm kinh tế gia đình và 6 em làm thuê tại cảng cá với thời lượng bình quân 3 giờ/ngày. Ngoài ra, 38/75 học sinh dành trung bình 3,5 giờ/ngày để truy cập internet và chơi trò chơi điện tử trực tuyến.

Thảo luận kết quả

Khi mô phỏng dữ liệu trên biểu đồ đường phân bố học sinh bỏ học theo khối lớp, đồ thị thể hiện xu hướng giảm dần rõ rệt từ đỉnh 35% ở lớp 7 xuống còn 12% ở lớp 9. Đồ thị cơ cấu thu nhập cũng minh chứng 55% hộ gia đình có mức thu nhập trên 4 triệu đồng/người/tháng (trong đó 16% đạt trên 8 triệu đồng/người/tháng), khẳng định áp lực tài chính bậc trung học cơ sở không phải rào cản tuyệt đối.

Nguyên nhân sâu xa nằm ở nhận thức của phụ huynh về giá trị kinh tế của giáo dục. 80% người dân địa phương có trình độ văn hóa dưới cấp 2, dẫn đến định kiến đi biển truyền thống chỉ cần kinh nghiệm thực tế từ 13-14 tuổi chứ không cần bằng cấp cao. Mô hình gia đình đã chọn cách chuyên môn hóa: tập trung kinh phí cho con học giỏi hoặc con gái đi học nghề, trong khi rút con trai học yếu về phụ việc tàu cá.

Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chernichovsky (1985) về chuyên môn hóa nguồn lực gia đình, nhưng bổ sung thêm khía cạnh đặc thù về chính sách tuyển quân tại Việt Nam. Về phía cung giáo dục, dù tỷ số học sinh/giáo viên đạt mức tốt từ 13,6 đến 13,66 nhưng cơ sở vật chất chỉ ở mức tối thiểu (5/6 trường thiếu phòng chức năng, 2/6 trường phòng học xuống cấp). Kênh kết nối nhà trường - gia đình rất lỏng lẻo khi 34/75 phụ huynh không được cập nhật học lực thường xuyên, và 47% trường hợp trường học không có biện pháp vận động kịp thời khi trẻ bỏ lớp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích định tính và bối cảnh kinh tế biển, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm:

Thứ nhất, tích hợp chương trình đào tạo nghề kinh tế biển vào bậc trung học cơ sở. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thiết kế các mô hình học nghề chính thức như vận hành máy tàu cá, kỹ thuật dò quét ngư trường và bảo quản hải sản hiện đại lồng ghép vào chương trình lớp 8 và lớp 9. Mục tiêu giữ chân ít nhất 80% học sinh có xu hướng bỏ học, thực hiện thí điểm từ năm học 2018-2020.

Thứ hai, đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức phụ huynh vùng bãi ngang. Ủy ban nhân dân các xã chỉ đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân và Nghiệp đoàn Nghề cá tổ chức các buổi tuyên truyền chuyên đề về vai trò của tri thức trong hiện đại hóa nghề cá công nghệ cao. Mục tiêu nâng tỷ lệ phụ huynh ủng hộ con hoàn thành phổ cập trung học cơ sở từ mức dưới 30% hiện nay lên trên 75% giai đoạn 2017-2019.

Thứ ba, chấm dứt bệnh thành tích và xóa bỏ triệt để hiện tượng ngồi nhầm lớp. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần điều chỉnh tiêu chí trường chuẩn quốc gia tại Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT, thay thế mức trần bỏ học 1% bằng đánh giá chất lượng học tập thực chất. Các trường trung học cơ sở tổ chức khảo sát năng lực đầu vào lớp 6 để bồi dưỡng kiến thức tiểu học cho 100% học sinh yếu kém ngay từ đầu khóa học.

Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát chuyên cần và cảnh báo sớm liên ngành. Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ngãi chỉ đạo thành lập tổ phản ứng nhanh cấp thôn gồm giáo viên chủ nhiệm, trưởng thôn và Chi hội Khuyến học. Tổ có trách nhiệm can thiệp trong vòng 48 giờ khi phát hiện học sinh nghỉ học không phép 2 buổi liên tiếp, nhằm kéo giảm tỷ lệ bỏ học trung học cơ sở toàn khu vực xuống dưới 1,5% trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách công và cán bộ quản lý giáo dục cấp tỉnh, huyện. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động ngoài dự liệu của Thông tư số 140/2015/TT-BQP và Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT, giúp điều chỉnh các chỉ tiêu phổ cập phù hợp với đặc thù kinh tế biển.

Thứ hai, Ban giám hiệu và giáo viên các trường trung học cơ sở vùng duyên hải. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ nhận diện sớm các chỉ số nguy cơ bỏ học (học lực sa sút, nghỉ học theo mùa vụ, nghiện trò chơi điện tử), từ đó cải tiến phương pháp phụ đạo thực chất và nâng cao hiệu quả phối hợp cùng gia đình.

Thứ ba, các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương như Hội Khuyến học, Hội Phụ nữ và Nghiệp đoàn Nghề cá. Dữ liệu khảo sát cung cấp góc nhìn sâu về rào cản tâm lý của phụ huynh, giúp xây dựng phương thức vận động học sinh quay lại lớp học đạt tỷ lệ thành công cao hơn.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Xã hội học và Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp Lý thuyết Vốn con người của Becker và Mô hình Quyết định hộ gia đình của Glick & Sahn trong bối cảnh thực địa tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao học sinh gia đình không nghèo ở ven biển Quảng Ngãi lại bỏ học nhiều hơn hộ nghèo?
Khảo sát chỉ ra tỷ lệ trẻ bỏ học ở hộ không nghèo là 2 trẻ/hộ, cao hơn mức 1,2 trẻ/hộ ở hộ nghèo. Nguyên nhân do phụ huynh khá giả làm nghề biển có sẵn phương tiện đánh bắt, định hướng con nối nghiệp sớm vì thu nhập đi biển đạt 8.000.000 đồng/tháng, trong khi hộ nghèo làm nông nghiệp quyết tâm đầu tư học vấn để con thoát ly đồng ruộng.

Quy định tuyển chọn nghĩa vụ quân sự ảnh hưởng thế nào đến tình trạng bỏ học của nam sinh?
Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 140/2015/TT-BQP quy định địa bàn khó khăn được tuyển chọn công dân có văn hóa từ lớp 7 trở lên. Do đó, 21/33 phụ huynh thừa nhận không khuyến khích con trai tiếp tục đi học nếu nghỉ học ở lớp 6 hoặc lớp 7 để con không thuộc diện khám tuyển nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi.

Vì sao các lớp phụ đạo học sinh yếu kém tại các trường ven biển không giữ chân được học sinh?
7/12 giáo viên xác nhận học sinh bị ngồi nhầm lớp đã mất kiến thức căn bản từ bậc tiểu học. Chương trình phụ đạo hiện nay chỉ tập trung vào bài học hiện tại của bậc trung học cơ sở nên các em vẫn không tiếp thu được, cộng thêm tâm lý mặc cảm khiến học sinh chán nản và rời bỏ lớp học.

Chi phí học tập bậc trung học cơ sở có phải là nguyên nhân chính khiến học sinh nghỉ học không?
Không. Chi phí trực tiếp đến trường bậc trung học cơ sở trung bình chỉ khoảng 1.000.000 đồng/năm học, bao gồm 450.000 đồng học phí và các khoản đồng phục, sách vở. Mức phí này chiếm tỷ trọng không đáng kể so với thu nhập của 72% hộ gia đình không nghèo trong mẫu khảo sát.

Hoạt động lao động trẻ em tại địa phương diễn ra với cường độ như thế nào?
Có 44/75 học sinh (58,67%) tham gia lao động, phổ biến nhất là đánh bắt ven bờ (15 trường hợp) và nông nghiệp (15 trường hợp). Học sinh làm kinh tế gia đình mất bình quân 2 giờ/ngày, trong khi 6 em làm thuê tại vựa cá mất 3 giờ/ngày, thường xuyên phải nghỉ học từ 2 ngày đến 1 tuần theo con nước hoặc mùa vụ.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ nghịch lý bỏ học bậc trung học cơ sở tại 6 xã ven biển thành phố Quảng Ngãi không bắt nguồn từ nghèo đói tài chính mà chủ yếu do rào cản nhận thức văn hóa nghề biển và kẽ hở chính sách nghĩa vụ quân sự.
  • Nghiên cứu xác lập bằng chứng thực nghiệm về tác động tiêu cực của bệnh thành tích trong giáo dục, khiến 69,3% học sinh bỏ học vì hiện tượng ngồi nhầm lớp và mất gốc kiến thức từ bậc tiểu học.
  • Đề tài đóng góp khung giải pháp chính sách công đồng bộ, trọng tâm là lồng ghép giáo dục nghề nghiệp kinh tế biển vào bậc phổ sở và điều chỉnh quy chế công nhận trường chuẩn quốc gia.
  • Lộ trình triển khai các can thiệp chính sách và hệ thống giám sát chuyên cần liên ngành được định hình giai đoạn 2017-2020 nhằm giảm tỷ lệ bỏ học bền vững xuống dưới 1,5%.
  • Các cơ quan quản lý giáo dục, chính quyền địa phương và cộng đồng trường học cần nhanh chóng số hóa dữ liệu chuyên cần, đổi mới công tác hướng nghiệp để bảo vệ quyền học tập của trẻ em vùng biển.