chương 1, chúng tôi sẽ làm rõ cơ sở lí luận về HĐTN, mô hình học tập trải nghiệm của Kolb, DH toán với các HĐTN; • Ở chương 2, công cụ của Thuyết nhân học được sử dụng để xây dựng lưới TCTH tham chiếu làm căn cứ trả lời cho câu hỏi 2. Trước hết, chúng tôi tổng hợp các nghiên cứu thể chế về HSBN và nghiên cứu xây dựng bảng mô tả các mức độ hiểu HSBN. Chúng tôi sẽ nghiên cứu đối chiếu để xem xét sự xuất hiện của HSBN và HĐTN trong CT 2006 (hiện hành) và trong CT 2018, nghiên cứu này là cần thiết với chúng tôi trong bối cảnh chương trình mới đã ban hành ở Việt Nam nhưng SGK ứng với nó chưa ra đời. Từ lưới TCTH tham chiếu được lập chúng tôi xác định, lựa chọn những TCTH cần triển khai trong DH với những hoạt động nào trong một số ngữ cảnh.
• Dựa vào Lí thuyết tình huống và bằng phương pháp thực nghiệm khoa học, chúng tôi vận dụng để phân tích, xây dựng các bài toán thực nghiệm, triển khai tình huống DH HSBN với các HĐTN nhằm giúp HS hiểu nghĩa của đối tượng này ở các mức độ đã được mô tả ở chương 2. Các nội dung trên được trình bày trong chương 3: “Thực nghiệm sư phạm”. CƠ SỞ LÍ LUẬN Trong chương 1, chúng tôi sẽ trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu về các khái niệm được sử dụng trong luận văn, cụ thể là HĐTN, mô hình học tập trải nghiệm của Kolb, DH toán với các HĐTN. Việc nghiên cứu các khái niệm sẽ góp phần tạo nền tảng lí luận hướng tới mục tiêu xây dựng tình huống DH theo quan điểm học tập trải nghiệm.
Đồng thời, để tình huống DH được xây dựng đạt hiệu quả với các sự lựa chọn phù hợp với từng đối tượng HS cụ thể trong hệ thống DH hiện hành, chúng tôi cũng đề cập đến các khái niệm cơ bản trong Didactic Toán như Thuyết nhân học, Lí thuyết tình huống. Trong khuôn khổ luận văn của chuyên ngành, chúng tôi tham khảo và tổng kết lại từ các công trình đã có, đó là những đóng góp quan trọng và sẽ là công cụ không thể thiếu nhằm phục vụ cho nghiên cứu của mình. Hoạt động trải nghiệm 1. Hoạt động Theo Triết học Mác-xit, cuộc sống của con người là một chuỗi HĐ, con người là chủ thể của các HĐ thay thế nhau.
HĐ là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội, người khác và chính bản thân mình, là phương thức tồn tại của con người. Trong quá trình HĐ qua lại, có hai chiều tác động diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau: con người với tư cách là chủ thể tác động vào thế giới khách quan, tạo ra sản phẩm mà trong đó chứa đựng các đặc điểm tâm lý của người tạo ra nó và con người cũng chuyển những cái chứa đựng trong thế giới quan vào bản thân mình để có thêm kinh nghiệm về thế giới, những thuộc tính, quy luật, … được con người lĩnh hội, nhập vào vốn hiểu biết của mình. Từ đó, con người cũng có thêm kinh nghiệm tác động vào thế giới, rèn luyện cho mình những phẩm chất cần thiết để tác động hiệu quả vào thế giới. HĐ được giải nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) như sau: Hoạt động là một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình.
Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của hoạt động là con người, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. (Tham khảo Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005, tr.341) Lí thuyết HĐ là cơ sở của DH nói chung, tác giả Phạm Minh Hạc (1997) ghi nhận điều này từ tác phẩm Tâm lý học Vưgôtxki như sau: 17 Nhà trường hoạt động coi trọng giáo dục toàn diện, coi trọng cung cách làm việc tập thể,… phương pháp giáo dục bằng hoạt động là dẫn dắt học sinh tự xây dựng công cụ, làm trẻ thay đổi từ bên trong, hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động hợp tác giữa trò và trò có một tác dụng lớn. (Phạm Minh Hạc, 1997) Con người có tự lực HĐ mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành kiến thức, kinh nghiệm của bản thân mình, vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của chính mình. Do đó, có thể nói tâm lý, năng lực của con người chỉ có thể được bộc lộ, hình thành và phát triển trong HĐ và thông qua HĐ.
Trải nghiệm Chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ “trải nghiệm” trong cuộc sống hàng ngày. Theo Từ điển Tiếng Việt (2003, tr.1020), “trải” có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng”, còn “nghiệm” có nghĩa là “ngẫm thấy, suy xét ra điều đó là đúng”. Như vậy, “trải nghiệm là trải qua, kinh qua” có nghĩa là quá trình chủ thể được trực tiếp tham gia HĐ và rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì trạng thái có màu sắc, xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức, …) trong đời sống tâm lí của từng người.
Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, trải nghiệm là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân. (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005, tr.515) Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trải nghiệm để phục vụ lại cho cuộc sống. Chúng ta sống trong thực tại, trao đổi thông tin với thực tại, nhờ đó chúng ta thu được những kiến thức và kinh nghiệm sống cho riêng mình, tự hoàn thiện bản thân, cải tạo được thực tại và sống tốt hơn. Nói đến trải nghiệm là nói đến HĐ của con người, muốn giáo dục con người ta phải tổ chức các HĐ, không thể chỉ bằng lí thuyết suông.
Thực tế, nền giáo dục nước ta cũng đang dần đi từ tiếp cận kiến thức sang tiếp cận năng lực. Con người không chỉ học từ sách vở ở nhà trường mà còn từ thực tế cuộc sống, tích lũy cho bản thân những kinh nghiệm sống, biết gắn tri thức đã học với thực tiễn cuộc sống, học phải đi đôi với hành. Hoạt động trải nghiệm HĐTN trong nhà trường cần được hiểu là HĐ có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của các lực lượng giáo dục. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định qua trải nghiệm thực tiễn.
Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. Theo tác giả Phạm Quang Tiệp (2015), HĐTN được hiểu như sau: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù. (Tham khảo Lê Thị Cẩm Nhung, 2018, tr.39) HĐTN trong từng môn học được hiểu là sự vận dụng kiến thức đã học và áp dụng trong thực tế đời sống đối với một đơn vị kiến thức nào đó, giúp HS phát hiện, hình thành, củng cố kiến thức một cách sáng tạo và hiệu quả. Các HĐ này được thực hiện trong lớp học, ở trường, ở nhà hay tại bất kỳ địa điểm nào phù hợp.
HĐTN ở đây là nói đến HĐ học tập trong giờ lên lớp là chủ yếu (trừ một số rất ít tiết thực hành, trải nghiệm ở ngoài lớp học). Bản chất của HĐTN là tổ chức cho HS tiến hành các hành động theo cá nhân hoặc nhóm đảm bảo: HS được trực tiếp HĐ; Có sự liên kết, tương tác giữa kinh nghiệm đang có với kinh nghiệm tiếp thu được; Hình thành kinh nghiệm mới dưới dạng kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị (năng lực); Sử dụng kinh nghiệm vào HĐ mới, theo chu kì trải nghiệm mới. HĐTN chính là cầu nối giữa kiến thức lí thuyết và ứng dụng thực tế của kiến thức đó, giúp phát huy được năng lực thích nghi, năng lực sáng tạo dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân người học cho phù hợp với tình huống thực tiễn. HĐTN gắn kết giữa GV và HS, đòi hỏi GV phải phát huy vai trò của người hỗ trợ, hướng dẫn để giúp HS thu được kiến thức từ những kinh nghiệm thực tế nhằm phát huy 19 tốt nhất khả năng và sự sáng tạo ở HS, góp phần điều chỉnh và định hướng cho HĐ DH.
Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và hiệu quả của HĐTN. Đồng thời, HĐTN giúp HS hoàn thiện bản thân mình, tự tin trong học tập, hình thành năng lực học tập như lập kế hoạch, tổ chức làm việc nhóm, thu thập và xử lí thông tin, lập báo cáo, thuyết trình, đánh giá và tự đánh giá. DH với các HĐTN giúp gắn kết giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, tạo điều kiện cho HS rèn luyện năng lực giao tiếp, được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau. DH với các HĐTN tạo điều kiện kết nối các kiến thức khoa học liên ngành.
Nhờ đó, việc học của HS với các HĐTN trở nên gần gũi, thiết thực với cuộc sống, giúp giáo dục thực hiện được mục đích tích hợp, phân hóa nhằm phát triển phẩm chất và năng lực của người học.