Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến trường hợp tại trường cao đẳng fpt polytechnic

Luận văn thạc sĩ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học với hình thức học trực tuyến tại trường Cao đẳng FPT Polytechnic.

Trường đại học

FPT Polytechnic

Chuyên ngành

Giáo dục trực tuyến

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài viết
131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự hài lòng của học viên

Sự hài lòng học viên là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng giáo dục, đặc biệt trong bối cảnh học trực tuyến tại FPT Polytechnic. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hài lòng không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giảng dạy mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như nội dung khóa học, phương pháp giảng dạy, và công nghệ giáo dục. Theo một khảo sát, 75% học viên cho rằng trải nghiệm học tập của họ được cải thiện nhờ vào sự tương tác giữa giảng viênhọc viên. Điều này cho thấy rằng động lực học tậpphản hồi từ học viên là những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao sự hài lòng.

1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên trong môi trường học trực tuyến. Đầu tiên, đánh giá chất lượng của giảng viên là một yếu tố quyết định. Học viên thường cảm thấy hài lòng hơn khi giảng viên có kỹ năng giảng dạy tốt và có khả năng truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả. Thứ hai, nội dung khóa học cũng đóng vai trò quan trọng. Nội dung cần phải phù hợp và cập nhật để đáp ứng nhu cầu học tập của học viên. Cuối cùng, hỗ trợ học viên từ phía nhà trường cũng là một yếu tố không thể bỏ qua. Học viên cần có sự hỗ trợ kịp thời để giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập.

II. Phân tích trải nghiệm học tập

Trải nghiệm học tập tại FPT Polytechnic được đánh giá qua nhiều khía cạnh khác nhau. Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Các giảng viên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra một môi trường học tập tích cực. Học viên cho biết rằng họ cảm thấy hứng thú hơn khi tham gia vào các hoạt động tương tác và thảo luận nhóm. Ngoài ra, công nghệ giáo dục cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trải nghiệm học tập. Việc sử dụng các công cụ trực tuyến giúp học viên dễ dàng tiếp cận tài liệu và tương tác với giảng viên. Một nghiên cứu cho thấy rằng 80% học viên cảm thấy hài lòng với công nghệ giáo dục được sử dụng trong khóa học.

2.1. Tương tác giữa giảng viên và học viên

Tương tác giữa giảng viênhọc viên là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng. Học viên cảm thấy thoải mái hơn khi có thể đặt câu hỏi và nhận phản hồi kịp thời từ giảng viên. Sự tương tác này không chỉ giúp học viên hiểu bài tốt hơn mà còn tạo ra một môi trường học tập thân thiện. Theo khảo sát, 70% học viên cho biết họ cảm thấy hài lòng hơn khi giảng viên chủ động tương tác và hỗ trợ trong quá trình học tập. Điều này cho thấy rằng động lực học tậpphản hồi từ học viên là những yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao sự hài lòng.

III. Đánh giá chất lượng và hỗ trợ học viên

Đánh giá chất lượng giảng dạy và hỗ trợ học viên là hai yếu tố quan trọng trong việc nâng cao sự hài lòng. Học viên cần có sự hỗ trợ từ nhà trường để giải quyết các vấn đề trong quá trình học tập. Việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như tư vấn học tập, hướng dẫn sử dụng công nghệ, và hỗ trợ kỹ thuật là rất cần thiết. Một nghiên cứu cho thấy rằng 85% học viên cảm thấy hài lòng hơn khi nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ nhà trường. Điều này cho thấy rằng hỗ trợ học viên không chỉ giúp nâng cao chất lượng học tập mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực.

3.1. Phản hồi từ học viên

Phản hồi từ học viên là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giảng dạy. Học viên cần có cơ hội để chia sẻ ý kiến và cảm nhận của mình về khóa học. Việc thu thập phản hồi này giúp nhà trường hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của học viên. Theo khảo sát, 90% học viên cho biết họ muốn được tham gia vào quá trình đánh giá chất lượng giảng dạy. Điều này cho thấy rằng phản hồi từ học viên không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn tạo ra một môi trường học tập thân thiện và cởi mở.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học đối với hình thức học tập trực tuyến trường hợp tại trường cao đẳng fpt polytechnic

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO 1. Khái niệm về dịch vụ Theo Philip Kotler va Kellers (2006): “Dich vu la bat ky hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó, đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bat ky quyền sở hữu một vật nào cả.

Còn việc sản xuất dịch vụ có thẻ, hoặc không, cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Theo Zeithaml va Bitner (2000): “Dich vu là hành vi, là quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn mong đợi và nhu cầu của khách hàng”. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá năm 2012, dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ nhưng các định nghĩa đều thống nhất dịch vụ là sản phẩm của lao động, là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

Dịch vụ có các đặc điểm như không tổn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ xảy ra đồng thời, không thể được lưu trữ, sự đa dạng và phải có sự tham gia của chủ thể sử dụng dịch vụ 1. Khái niệm về dịch vụ đào tạo Theo Cuthbert (1996), đảo tạo đại học được xem là một ngành dịch vụ vì nó có đầy đủ các thuộc tính của một dịch vụ như: nó có tính vô hình, không thể tồn kho, quá trình cung ứng dịch vụ (kiến thức, khả năng áp dụng) của cơ sở đào tạo (giảng viên, nhân viên) và quá trình sử dụng dịch vụ của khách hàng (sinh viên) diễn ra đồng thời, dịch vụ giáo dục cũng không đồng nhất tùy vào điều kiện cụ thể của quá trình cung ứng dịch vụ. Theo Butin (2006), giáo dục đại học được coi là dịch vụ và học viên được coi là khách hàng tiềm năng. Điều này cho thấy các trường đại học đang cố gắng áp dụng các phương thức tiếp cận đến khách hang dé dap ứng với những nhu cầu ngày càng tăng của dịch vụ đào tạo.

Theo tac giả Phùng Hữu Phú và cộng sự (2016), khái niệm dịch vụ giáo dục và đào tạo được xem xét theo 2 khía cạnh bao gồm nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Đối với nghĩa rộng, xem toàn bộ hoạt động giáo dục và đảo tạo thuộc khu vực dịch vụ (trong tương quan với hai khu vực khác là công nghiệp và nông nghiệp). Đối với nghĩa hẹp của khái niệm dịch vụ giáo dục và đảo tạo gắn với các hoạt động giáo dục, đào tạo cụ thê. Quá trình giáo dục và dao tao được thực hiện với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố, quá trình khác nhau, có thể là vật chất (như cơ sở vật chất, trang thiết bi,.), có thể là phi vật chất (như quá trình truyền thụ tri thức, giảng dạy trực tiếp,.), có thê là chứa đựng cả hai yếu tố vật chất và phi vật chất (như nội dung chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục và đảo tạo,.

Các yếu tố, quá trình giáo dục và đào tạo phi vật thể được gọi là dịch vụ thuần; các sản phẩm là hàng hóa vật thể gọi là hàng hóa thuần; còn các sản phẩm chứa đựng cả yếu tổ vật chất và yếu tố phi vật chất được gọi chung là hàng hóa dịch vụ không thuần. Vì vậy, trong giáo dục và đào tạo có rất nhiều các loại dịch vụ cụ thể phục vụ cho nhà trường, phục vụ cho người dạy, phục vụ cho người học, phục vụ cho quá trình giáo dục và đảo tạo. Như vậy, đào tạo được xem như là một hoạt động dịch vụ. Theo đó, cơ sở đảo tạo sẽ cung cấp cho người học những kiến thức, kỳ năng để người học có thể sử dụng trong công việc, cuộc sống, góp phần phát triển cho cá nhân người học và phát triển chung của xã hội.

Khái niệm về hình thức đào tạo trực tuyến Đào tạo trực tuyến được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1995 khi hệ thống dựa trên web WebCT được phát triển thành Hệ thống quản lý học tập đầu tiên (LMS), sau này trở thành Blackboard. Trong bối cảnh đó, đào tạo trực tuyến là sử dụng LMS hoặc tải văn bản và pdf lên trực tuyến (Bates, 2014). Kế từ đó, đào tạo trực tuyến được phát triển thành nhiều hình thức như e-learning, blended learning, đào tạo từ xa, Theo Curtain (2002), dio tao trực tuyến được định nghĩa là việc tương tác giữa giáo viên và học sinh được thực hiện thông qua internet, bao gồm cả tương tác đồng bộ và tương tác không đồng bộ. Tương tác đồng bộ bao gồm việc tổ chức đánh giá và cung cấp tài liệu khóa học dựa trên web,.

Tương, tác không đồng bộ bao gồm trao đổi thông tin qua email, nhóm tin tức, nhóm trò chuyện,. Theo Singh & Thurman (2019), đào tạo trực tuyến được xem là hình thức đảo tạo được cung cấp trong môi trường trực tuyến thông qua việc sử dụng internet đề đạy và học. Việc học trực tuyến của học sinh không phải phụ thuộc vào vị trí địa lý của họ. Nội dung giảng dạy được truyền tải trực tuyến.

Các giảng viên phát triển các học phần giảng dạy và tương tác với sinh viên trong môi trường đồng bộ hoặc không đồng bộ. Trong khi một số tác giả sử dụng khái niệm đào tạo trực tuyến và e- Leaming thay thế cho nhau, nhưng một số tác giả khác lại định nghĩa chúng là hai thực thể riêng biệt được phân biệt bởi các loại công nghệ được sử dụng đẻ day học. Một số tác giả mô tả e-Learning là loại hình đào tạo được cung cấp thông qua Internet cùng với các phương tiện điện tử khác chẳng hạn như CDROM, vệ tỉnh vả truyền hình, trong khi đào tạo trực tuyến được định nghĩa là hình thức đảo tạo được cung cấp thông qua Internet hoặc các phương tiện dựa trên web (Lee, 2017; Moore và cộng sự., 201 1; Ryan và cộng sự, 2016) Theo Thông tư 12/2016/TT-BGĐT: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, học liệu điện tử và mạng viễn thông (chủ yếu là mạng Internet) hỗ trợ các hoạt động dạy và học nhằm đổi mới phương pháp dạy - học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo. Một số một mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đảo tạo qua mạng phô biến là: a) Đào tạo kết hợp (Blended learning) là việc kết hợp phương thức học tập điện tử (e-Learning) với phương thức dạy - học truyền thống (theo đó người dạy và người học cùng có mặt) nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào.

tao va chat lượng giáo dục. b) Học tập điện tử (e-Learning) là hình thức học tập qua đó người học có thể tự học mọi lúc, học mọi nơi thông qua các học liệu điện tử đa phương. tiện (lời giảng, lời thuyết minh, âm thanh, hình ảnh, video, đồ họa. Các hình thức học tập như m-Learning (học thông qua thiết bị di động: điện thoại thông minh, máy tính bảng, màn hình tương tác), u-Learning (học thông qua các phương thức tương tác thực tế ảo diễn ra bất kỳ nơi hào), hay smart- Learning (phương tiện học tập thông minh) đều là các hình thái của học tập điện tử e-Learning.” Trong phạm vi của bài nghiên cứu này, đào tạo trực tuyến có thể được hiểu là hình thức đào tạo dựa trên các công cụ hiện đại như: điện thoại, máy tính,.

có kết nối mạng Internet để học tập, học viên và giáo viên có thẻ tương tác 2 chiều với nhau thông qua các nén tảng web, ứng dụng phần mài ma không phải phụ thuộc vào vị trí địa lý của họ. SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm sự hài lòng cúa khách hàng, Theo Philip Kotler (1994), sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác cúa một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của chính họ. Sự kỳ vọng của khách hàng được hình thành từ kinh nghiệm mua sắm, từ bạn bè, đồng nghiệp và từ những thông tin của người bán và đối thủ cạnh tranh.

Để nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, doanh nghiệp cần hiểu rõ mong muốn của khách hàng. Mức độ hải lòng phụ thuộc sự khác biệt giữa kết quả nhận được và sự kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn sự kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quả thực tế tương xứng với sự kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu kết quả thực tế cao hơn sự kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng. ‘Theo Hansemark va Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cẩu, mục tiêu hay mong muốn”. Như vậy, có thể hiểu được sự hài lòng của khách hàng là cảm giác dễ chịu hoặc có thê thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa những lợi ích thực tế của sản phẩm và những kỳ vọng của họ.

Sự hài lòng của khách hàng là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan. Khái niệm sự hài lòng của sinh viên đối với dịch vụ đào tạo Theo Lê Phước Lượng (2009, được trích dẫn bởi Nguyễn Thị Bích Vân, 2013), đối với dịch vụ đảo tạo đại học, có thể nhận diện các loại khách 10 hàng sau đây: (1) Phụ huynh của sinh viên, (2) Tổ chức, cơ quan tuyển dụng, sinh viên sau khi tốt nghiệp, (3) Giảng viên, (4) Chính quyên hay xã hội, (5) Sinh viên. Tuy nhiên, khách hàng chính sử dụng dịch vụ đào tạo mà nhà trường cung cấp là sinh viên (Senthikumar & Arulraj, 2009: Nguyễn Thị Bích Vân, 2013) Elliott và Shin (2002) cho rằng sự hài lòng của sinh viên được xác định bằng sự đánh giá chủ quan của sinh viên giữa trải nghiệm thực tế và hiểu biết kinh nghiệm. “Theo Carey và cộng sự (2002), sự hài lòng của sinh viên có thể được xem là một hàm của cảm nhận tương đối về trải nghiệm sử dụng dịch vụ đảo tạo và nhận thức sự hiệu quả của dịch vụ trong suốt quá trình học.

Tur những quan niệm trên, có thể hiểu sự hài lòng của sinh viên là cảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên với học trực tuyến tại FPT Polytechnic" phân tích sâu về những yếu tố chính tác động đến trải nghiệm học tập trực tuyến của học viên, bao gồm chất lượng giảng dạy, công nghệ hỗ trợ, và sự tương tác giữa giảng viên và học viên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách các tổ chức giáo dục có thể cải thiện sự hài lòng của người học trong môi trường trực tuyến, đồng thời đưa ra các gợi ý thực tiễn để tối ưu hóa quá trình giảng dạy. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà giáo dục và quản lý đào tạo muốn nâng cao chất lượng học tập trực tuyến.

Để mở rộng kiến thức về phương pháp giảng dạy trực tuyến, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ về thái độ của sinh viên và giáo viên đối với học trực tuyến tiếng Anh tại VUS Vũng Tàu, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về thái độ và phản ứng của người học trong môi trường trực tuyến. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ về phương pháp giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên ngữ tại Đại học Quy Nhơn cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp hiểu rõ hơn về cách tiếp cận đa dạng trong giảng dạy trực tuyến. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về sử dụng sơ đồ tư duy để thúc đẩy động lực học tiếng Anh của học sinh tiểu học mang đến những phương pháp sáng tạo có thể áp dụng trong giảng dạy trực tuyến.