Chương 1: Giới Thiệu Chương 2: Tổng Quan Lý Thuyết Chương 3: Phương Pháp Nghiên Cứu Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Chương 5: Kết Luận Và Hàm Ý Quản Trị 1. Đóng góp của đề tài - Về mặt khoa học: Đề tài góp phần bổ sung thêm và củng cố thêm các bằng chứng thực nghiệm, từ đó khẳng định cơ sở lý thuyết vững chắc đối với chủ đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM. - Về mặt thực tiễn: Thông qua kết quả nghiên cứu, có thể xác định và đánh giá được tác động của các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng và các yếu tố từ môi trường vĩ mô với RRTD là cơ sở để các NHTM hoàn thiện hơn công tác quản lý RRTD, chủ động ứng phó với biến động của nền kinh tế vĩ mô, nhận diện sớm các tác động tiêu cực 5 từ các yếu tố đặc điểm ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Bên cạnh đó, hoàn thành bài nghiên cứu sẽ giúp tác giả cải thiện và nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học đồng thời mở rộng thêm kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực nghiên cứu về rủi ro của ngân hàng.
6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Ở chương này, luân văn sẽ cung cấp cái nhìn tổng thể về RRTD về mặt lý thuyết bao gồm các khái niệm, nguyên nhân và tiêu chí đánh giá RRTD ngân hàng. Đồng thời, từ mặt lý thuyết, kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm từ trước, tác giả sẽ trình bày về những yếu tố ảnh hưởng đến RRTD. Bên cạnh đó, luân văn tiến hành lược khảo và tổng hợp các nghiên cứu từ trước về tác động của các nhân tố đến RRTD tại các NHTM. Rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD 2.
Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm RRTD là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng. Các khái niệm về RRTD là đa dạng. Anthony Sauders (2007) nhận định Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm ẩn khi ngân hàng thực hiện các hoạt động cho vay nhưng dòng tiền thu về từ khoản cho vay của ngân hàng không như kế hoạch về cả số lượng và thời hạn.
Ủy ban Basel có đề cập đến RRTD trong bộ Nguyên tắc quản trị RRTD (2000), RRTD được định nghĩa một cách đơn giản là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Từ những hậu quả nặng nề mà RRTD mang đến cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế, có thể xem RRTD là rủi ro quan trọng nhất của các ngân hàng, nó xảy ra khi khách hàng vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết (Bessis, 2002). Như vậy, RRTD phát sinh khi người đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm thanh toán theo quy định trong hợp đồng tín dụng làm gia tăng tỉ lệ nợ xấu và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và khả năng thanh toán cũng như uy tín của ngân hàng. Chính vì vậy, việc quản trị RRTD luôn là chủ đề 7 quan trọng được quan tâm hàng đầu bởi các nhà quản trị trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguyên nhân gây ra RRTD Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng. Theo Ghosh (2012), có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD, bao gồm nguyên nhân bên ngoài đến từ môi trường kinh tế, pháp lý và nguyên nhân bên trong xuất phát từ nội tại ngân hàng cũng như từ phía khách hàng vay vốn. Nguyên nhân từ môi trường Đây là nguyên nhân khách quan dẫn đến RRTD, cũng như hoạt động của các chủ thể khác trong nền kinh tế, hoạt động của NHTM cũng chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường. Tình trạng xấu đi của nền kinh tế dẫn đến hoạt động kinh doanh bị trì hoãn do nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ giảm làm cho doanh nghiệp giảm lợi nhuận kéo theo khả năng trả nợ bị ảnh hưởng.
Ngược lại, trong tình hình kinh tế phát triển nhanh chóng, số lượng sản phẩm tạo ra nhiều, lợi nhuận doanh nghiệp tăng cao, nâng cao khả năng trả nợ của doanh nghiệp làm giảm rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng chịu sự tác động từ những biến động của thị trường tài chính, vĩ mô và môi trường pháp lý thay đổi. Nguyên nhân từ ngân hàng Hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng còn chưa chặt chẽ, các chính sách tín dụng chưa phù hợp với sự biến động của nền kinh tế, quy trình tín dụng chưa đồng bộ, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa cao là những nguyên nhân cụ thể có thể dẫn đến RRTD. 8 Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến RRTD là việc Ngân hàng quyết định cấp tín dụng quá dễ dàng, khẩu vị rủi ro cao.
Các ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận, thực hiện tăng trưởng tín dụng quá mức, đồng nghĩa với việc thiếu chặt chẽ trong quy trình cấp tín dụng và kiểm soát nguồn vốn của mình, từ đó dẫn đến tỉ lệ nợ xấu tăng cao. Nguyên nhân từ khách hàng Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những yếu tố có tính quyết định đến RRTD của ngân hàng. Các yếu tố về quản lý tài chính, quy trình sản xuất, kế hoạch kinh doanh và sản phẩm cạnh tranh,… là những yếu tố phổ biến có tác động trực tiếp lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như khả năng trả nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro đạo đức cũng là nguyên nhân gây ra RRTD.
Điều này thể hiện ở khía cạnh ý thức trả nợ của khách hàng và sự trung thực của nhân viên tín dụng. Hậu quả của RRTD Đối với bản thân NHTM Khi NHTM có tỉ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với có nhiều khoản vay không có khả năng thu hồi cả gốc và lãi, gây tình trạng trì trệ trong quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng. Từ đó gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và uy tín của ngân hàng. RRTD không được kiểm soát tốt có thể gây mất khả năng thanh khoản và NHTM có nguy cơ phá sản hoặc đưa vào diện kiểm soát đặc biệt.
Đối với hệ thống ngân hàng 9 Một khi NHTM đối mặt với các hệ quả tiêu cực từ RRTD, có thể dẫn đến hiệu ứng rút tiền đồng loạt trên thị trường do tâm lý lo sợ rủi ro đối với các khoản tiền gửi của người dân. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến cả hệ thống NHTM, nghiêm trọng hơn, có thể dẫn đến nguy cơ sụp đổ của cả hệ thống ngân hàng nếu không có sự can thiệp kịp thời từ NHNN. Đối với nền kinh tế Ngân hàng đóng vai trò là cột sống của cả nền kinh tế, mối quan hệ giữa các NHTM và các chủ thể khác trong nền kinh tế là mối quan hệ 2 chiều có liên quan chặt chẽ với nhau. Vậy nên một khi RRTD xảy ra đối với ngân hàng sẽ gây các tác động trực tiếp đến nền kinh tế.
Các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn sẽ khó tiếp cận được, gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh từ đó làm trì trệ sự ổn định và phát triển của cả nền kinh tế. Ở mức độ nghiệm trọng hơn, RRTD có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ của ngân hàng, đe dọa đến toàn bộ nền kinh tế. Tóm lại, RRTD gây hậu quả nghiệm trọng không chỉ riêng đối với NHTM và mà là vấn đề của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý Nhà nước cần có các biện pháp kiểm soát RRTD, đảm bảo sự phát triển ổn định của ngân hàng và cả nền kinh tế.
Tiêu chí đánh giá RRTD Nợ xấu Nợ xấu là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực ngân hàng, được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, có nhiều cách định nghĩa nợ xấu tùy thuộc quan điểm của từng người. Có thể hiểu nợ xấu là khoản nợ mà người vay chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi đến 90 ngày. Tại Việt Nam, Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN, các khoản cho vay khách hàng được phân loại theo các mức rủi ro như sau: 10 - Nợ nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn. - Nợ nhóm 2 – Nợ cần chú ý - Nợ nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn - Nợ nhóm 4 – Nợ nghi ngờ - Nợ nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn.
Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 4 và 5. Nợ xấu 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 = 𝑋 100% Tổng dư nợ Tỉ lệ nợ xấu là chỉ số phản ánh rõ nét chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Tỉ lệ nợ xấu có xu hướng tăng là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp vấn đề trong quy trình cấp tín dụng và kiểm soát chất lượng tín dụng. Ngược lại, nếu tỉ lệ này được kiểm soát ở mức cho phép, cho thấy khả năng kiểm soát chất lượng các khoản cho vay tốt.
Dự phòng RRTD Hishamuddin và cộng sự (2014) cho rằng, dự phòng RRTD là các khoản chi phí được trích lập trước nhằm bù đắp những tổn thất có thể xảy ra từ các khoản vay không thu hồi được. Dư phòng RRTD được tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng do đó sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Ở hầu hết các quốc gia, dự phòng RRTD được chia thành dự phòng chung và dự phòng cụ thể (Floro, 2010) Theo Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2013), “dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra khi khách hàng của tổ chức tín dụng không thể thực hiện nghĩa vụ theo cam kết đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng.
Tỉ lệ trích lập dự phòng rủi ro Nhóm nợ Tỉ lệ trích lập dự phòng cụ thể Tỉ lệ trích lập dự phòng chung Nhóm 1 0% Nhóm 2 5% 0.75% Nhóm 3 20% Nhóm 4 50% Nhóm 5 100% Nguồn: Thông tư 11/2021/TT-NHNN Như vậy, trích lập dự phòng RRTD là quá trình ngân hàng đánh giá và ước lượng trước tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng.