Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng sử dụng thẻ tín dung trong chi tiêu thường xuyên cua nhân viên văn phòng trên địa bàn Hà Nội Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho dịch vụ thẻ tín dụng trong chi tiêu thường xuyên. 11 CHUONG 1: CO SO LY LUAN 1. Khai quat vé thé tin dung 1. Khai niém vé thé tin dung: Có nhiều khái niệm khác nhau về thẻ Ngân hang.
Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN định nghĩa về thẻ tín dụng, cụ thể như sau: “Thẻ tín dung (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dich thẻ trong phạm vi hạn mức tin dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ". Hình thức cơ bản của thẻ tín dụng là thẻ sử dụng trong hệ thống mua bán chịu do Bighin (John Biggins) sáng lập năm 1946. Người sở hữu thẻ sử dụng thẻ dé thanh toán cho các khoản mua bán lẻ trong phạm vi lãnh thé có hệ thống mua bán chịu phục vụ. Các cơ sở châp nhận thẻ nộp biên lai bán hàng vào ngân hàng của.
Bighin, ngân hàng sẽ trả khoản tiền mua hàng và thu lại từ người sử dụng thẻ. Đến năm 1951, Ngân hang Franklin National Bank ở Long Island, New York phát hành loại thẻ tin dung được sử dung với phạm vi rộng hon so với các thẻ sử dung trong hệ thông mua bán chịu của Bighin. Năm 1960, Ngân hàng châu Mi (Bank of America) phát hành thẻ Bank Americard được nhiều tô chức tài chính, ngân hàng chấp nhận với tư cách là thành viên tham gia thanh toán thẻ. Năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Hoa Kì đã thành lập hệ thống liên ngân hang (Interbank) với chức năng là đầu mối trao đôi các thông tin về giao dịch thẻ.
Đến năm 1967, bốn ngân hàng của Bang California đổi tên từ Califomia Bank Card Association thành Westem State Bank Card Association (WSBA) va lién két voi Interbank phat hanh thé Master Charge. Thẻ Bank Americard, thẻ Master Change được su dụng trên phạm vi toàn cầu và hai tổ chức phát hành này đã xây dựng các quy tắc sử dụng thẻ trong thanh toán, đóng vai trò là người thúc đây việc sử dụng thẻ tín dụng trong giao dịch trên phạm vi toàn cầu. Cùng với quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, thẻ tín dụng ngày càng được sử dụng rộng rãi và do nhiều tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành. 12 Ở Việt Nam, năm 1990, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam bắt đầu làm đại lí thanh toán thẻ cho các ngân hàng, tổ chức tài chính ngoài nước.
Nghị định số 91/CP ngày 25/11/1993 của Chính phủ về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt là văn ban pháp luật đầu tiên ở nước ta có các quy định về thẻ ngân hàng, trong đó có thẻ tín dụng. Năm 1993, Ngân hàng ngoại thương phát hành thẻ ngân hàng và đến năm 1995 phát hành loại thẻ ghi nợ đầu tiên. Các chủ thể phát hành thẻ sẽ quy định một hạn mức tín dụng nhất định cho từng chủ thẻ hay nói cách khác chủ thẻ chỉ được tiêu trong hạn mức đã cho. Hàng tháng, khi nhận được sao kê (thông báo yêu cầu thanh toán của ngân hàng theo danh sách các khoản chi đã thực hiện trong tháng), chủ thẻ chỉ phải thanh toán số tiền họ đã chi tiêu, mà không phải trả bất cứ một khoản lãi nào nếu trả đúng hạn quy định.
Còn nếu chủ thẻ không thanh toán được hết nợ thì sẽ phải trả số tiền còn nợ theo mức lãi suất định trước. Lãi suất này được xác định tuỳ theo ngân hàng phát hành thẻ. Với đặc điểm là chi tiêu trước, trả tiền sau, chủ thẻ có thé thực hiện các giao dịch hàng hóa, dịch vụ tại các ĐVCNT hay trên các website thương mại điện tử thông qua hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng. Sau đó một ngày định kỳ của mỗi tháng theo quy định của từng ngân hàng, ngân hang sẽ gửi một bảng sao kê cụ thé các khoản chỉ tiêu trong tháng trước đó mà chủ thẻ tín dụng đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán.
Khi đó, chủ thẻ có thể chọn thanh toán toàn bộ số tiền trước hoặc trong thời hạn ghi trong thông báo,nếu chủ thẻ thanh toán đúng thời hạn thì sẽ không phải trả lãi va bat kỳ loại phi phát sinh nào. Ngoài ra, chủ thẻ có thé lựa chọn thanh toán số tiền tối thiểu trên sao kê (từ 5% -10%tùy thuộc vào quy định của từng ngân hàng), phần còn lại chủ thẻ có thê trả từ từ và sẽ bị tính lãi theo quy định của ngân hàng. Phan loại thẻ tin dụng: a. Theo nội dung bản chất kinh tế: - _ Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là phương tiện thanh toán do ngân hàng cung cấp khi chủ thẻ mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, cho phép chủ thẻ sử dụng 13 số tiền họ có trong tài khoản.
Chủ thẻ có thé thanh toán, chuyền khoản, rút tiền mặt hay thực hiện những giao dịch khác trong phạm vi số tiền của chủ thẻ. Mỗi lần sử dụng ngân hàng sẽ trừ ngay trên số tiền trong tài khoản của chủ thẻ. - Thé tín dung (Credit Card): Là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép chủ thẻ “Chi tiêu trước, trả tiền sau”. Ngân hàng sẽ cung cấp cho chủ thẻ một hạn mức chỉ tiêu, chủ thẻ sử dụng trong hạn mức đó.
Mỗi lần giao dịch là một lần nhận vay nợ của ngân hàng, đến thời hạn thì hoàn trả cho ngân hàng. Theo phạm vi sử dụng thẻ: Thẻ tín dụng nội địa: Đây là loại thẻ tín dụng chỉ có thé thanh toán các dịch vụ hoặc hàng hóa trong nước. Ưu điểm của loại thẻ này là phí quản lý và phí dịch vụ không quá cao. Tuy nhiên thẻ tín dụng nội địa có hạn mức không lớn, thấp hơn thẻ tín dụng quốc tế.
Điều này có thể đưa đến một số trở ngại khi khách hàng sử dụng. Thẻ tín dụng Quốc tế: Đây là loại thẻ có thể thanh toán trong và ngoài nước, đưa đến sự thuận tiện cho bạn đặc biệt khi mua sắm hoặc đi du lịch ở nước ngoài. Bạn có thể thanh toán trực tiếp bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế mà không cần đổi tiền mặt. Đặc biệt, hạn mức của thẻ tín dụng quốc tế có thé lên đến vài tỷ đồng.
Tuy nhiên, cũng như thẻ tín dụng nội địa, phí rút tiền mặt của thẻ tín dụng quốc tế khá cao, rơi vào khoảng 4% số tiền giao dịch. Bên cạnh đó, với loại thẻ này bạn cũng có thê gặp trường hợp không kiểm soát được tài chính khi chỉ tiêu quá nhiều. Sơ lược về thẻ tín dụng: a. Nguồn gốc thẻ tín dụng: 14 Năm 1949, sau một lần đi ăn nhà hàng gặp vấn đề về việc thanh toán, người đàn ông tên Frank McNamara cùng với đối tác đã lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng dé thanh toán tại các nhà hang - tiền thân của loại thẻ này hiện nay.
Năm 1951 Ngân hàng quốc gia Franklin, và New York đã phát hành loại thẻ tín dụng đầu tiên mang tới đến khách hàng. Với loại hình thức thẻ này khách hàng có thé vay tiền qua ngân hàng dé chỉ tiêu trước và trả tiền sau. Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ tín dụng này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dan dan, thẻ được sử dụng thêm ở cả các diém du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uông.
Vài năm sau các tổ chức lớn đã nhận thức được sự phát triển của loại hình thanh toán thông minh này, gần 100 ngân hàng khắp nước Mỹ đã phát hành thẻ. Tuy nhiên các chương trình thẻ mới nó chỉ cho phép khách hành thanh toán tại một số cửa hàng nhất định. Đề mua sắm, du lịch, âm thực tại các địa điểm và nhà hàng cửa hàng khác nhau, khách hàng phải mang theo nhiều thẻ rất bắt tiện. Năm 1958, ngân hang Bank of America thanh lập Công ty dịch vụ Bank Americard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới.
Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) là một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ chung nhiệm vụ thiết kế hệ thống thẻ quốc gia, phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được châp nhận rộng rãi.
Đặc diém cau tao: 15 Thẻ tín dụng được làm bằng chất nhựa trắng có 3 lớp, lõi thẻ là lớp nhựa trang cứng nằm giữa 2 lớp trang mỏng, kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07 cm. Mặt trước của thé gồm: + Biểu tượng của tổ chức thẻ, mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng. Vi dụ Masters Card có dòng chữ “Masters Card” chạy giữa 2 vòng tròn màu da cam và đỏ lồng vào nhau. + Tên va logo của ngân hàng phát hành thẻ.
+ Tên sản phẩm thẻ, hình ảnh biểu trưng của sản phẩm + Số thẻ, tên của chủ thẻ được in nỗi. + Thời gian hiệu lực của thẻ: Là thời gian thẻ được phép lưu hành (tuỳ từng loại thẻ) được thống nhất là ngày dương lich, tháng đương lich, năm dương lịch. + Ký tu an ninh: Là số mật mã của đợt phát hành, mỗi loại thẻ luôn có kí tự an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực. Vi dụ thẻ Visa có chữ V (hoặc CV, PV, RV), thẻ Master Card có chữ M và chữ C lồng vào nhau.
+ Biểu tượng con chip (nếu thẻ được phát hành theo công nghệ Chip chuẩn EMV). 16 | thánh sum 56 tãi khoun cũ mhkn Té chức phát hành [ngin hang, dosnh nghiệp] Nhà phit hành chich (Mastercard) Hình 1.1: Cau tao mặt trước của thẻ Mặt sau của thẻ gồm: + Dai băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. + Ô chữ ký dành cho chủ thẻ. Trên nền 6 chữ ký, khách hàng phải ký vào chữ ký mẫu của mình khi nhận thẻ từ ngân hàng phát hành dé cơ sở chấp nhận thẻ so sánh với chữ ký trên ô hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ hay tạm ứng tiền mặt.
+ Số CVV/CVC/CVV2: được sử dụng trong các giao dịch thanh toán trực tuyến.