Chương 1 giới thiệu lý do chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và mục tiêu nghiên cứu của bài viết. Ngoài ra, chương này cũng giới thiệu về phương pháp nghiên cứu và những đóng góp dự kiến của nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm Internet Banking Internet Banking (iBanking) là một loại hình ngân hàng điện tử (Electronic Banking), là kênh chuyến giao dịch vụ ngân hàng thông qua mạng internet.
Đây được xem là xu thế tất yếu trong kênh cung ứng dịch vụ của các ngân hàng hiện nay bởi nhiều lợi ích. Về phía ngân hàng, iBanking giúp tiết kiệm được chi phí và có thế phục vụ khách hàng 24/24. Về phía khách hàng, iBanking vừa tiết kiệm thời gian lại vừa thuận tiện. Bên cạnh đó, phát triên dịch vụ iBanking còn góp phân phát triên thanh toán không dùng tiền mặt nhằm giảm tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong dân cư- vôn là chủ trương mà nước ta đang theo đuối với mục tiêu đến năm 2020 phải giảm tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10% (Chính phủ, 2016).
Tuy nhiên, cho đến năm 2018, tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế vẫn còn cao với 90% chi tiêu hàng ngày của người dân sử dụng tiền mặt (Anh, 2018). Nếu so sánh với các con số: 67% dân số sử dụng internet tính đến 2018 (Dammio, 2018), 40% dân số Việt Nam có tài khoản ngân hàng, số lượng thẻ được phát hành lũy kế tính đến cuối quý I/2019 là 158 triệu thẻ thì việc phát triển các dịch vụ thanh toán. Ý định sử dụng dịch vụ Ý định là một quá trình tư duy trong tình huống, liên quan đến những trải nghiệm từ hành vi cá nhân đối với một mục tiêu hoặc hành động nhất định theo Gerbing và Anderson (1988). Theo khái niệm này, ý định đóng vai trò là một cầu nối giữa suy nghĩ và hành động, qua đó người ta phân tích kỹ lưỡng suy nghĩ của mình trước khi quyết định thực hiện một hành vi.
Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của quá trình suy nghĩ trước khi hành động, cho thấy ý định không chỉ là một dự định mơ hồ mà là kết quả của một quá trình cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng các lựa chọn và kết quả tiềm năng. Theo Ajzen (1991) chỉ ra rằng, ý định được xem là “ gồm nhiều nhân tố động cơ có tác động đến hành vi của mỗi cá nhân, các nhân tố này chỉ ra rằng sự sẵn sàng hoặc nỗ lực mà từng cá nhân sẽ đưa ra để tiến hành hành vi”. Ý định là sự chuyển 5 động có xu hướng (thiếu) thứ bên trong. Định nghĩa này có nghĩa là hành động này định hướng cho mục tiêu.
Trên cơ sở này thì ý định là chất xúc tác cho việc đưa ra quyết định của một cá nhân. Kureger (1993) cho rằng: "Ý định đại diện cho mức độ cam kết về hành vi sẽ thực hiện trong tương lai”. Ngày nay thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho rằng ý định là một tiền đề của hành vi dự định (Kureger và cộng sự, 2000) và ý định là những phán đoán cho dự tính tốt nhất về hành vi sẽ thực hiện. Cùng với sự thay đổi của thời gian và bối cảnh nghiên cứu mới thì Kureger (2003) có thêm một định nghĩa “Ý định là trạng thái cảm nhận ngay trước khi tiến hành một hành vi.” Theo như khái niệm, một người có ý định thực hiện hành vi là người có nhận thức và suy nghĩ rõ ràng về mục đích và phương tiện thực hiện hành vi đó.
Quyết định sử dụng dịch vụ Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng và cụ thể là quyết định của khách hàng đối với việc mua hay tham gia một sản phẩm dịch vụ nào đó. Bennett (1988), hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là các hoạt động mà người tiêu dùng thực hiện trong quá trình tìm kiếm, mua, sử dụng, và đánh giá các sản phẩm và dịch vụ mà họ kỳ vọng sẽ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách người tiêu dùng tương tác với thị trường và các nhà cung cấp, cũng như cách họ đưa ra quyết định dựa trên nhu cầu và kỳ vọng của bản thân. Đề cập đến quyết định mua hoặc tham gia một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, hay hành vi mua tham gia, có một số mô hình lý thuyết đã được đề cập trước đây như mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA), mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB).
Từ đó có thể thấy. Ý định được xác định là động lực ảnh hưởng đến hành vi, ý định mạnh mẽ dẫn đến hành vi mạnh mẽ hơn. Ý định mua hàng phản ánh dự đoán hoặc kế hoạch hành vi trong tương lai hoặc khả năng về niềm tin và sẽ chuyển thành hành vi mua hàng. Mặc dù Mittal và Kamakura (2001) lập luận rằng, ý định mua hàng không thể dự đoán chính xác, tuy nhiên theo Conner và Armitage (1998) ý định đại diện động cơ của một người phải nỗ lực để thực hiện hành vi.
Vì vậy khái niệm Quyết định sử dụng được hiểu như là quyết định mua trong nghiên cứu 6 này. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ INTERNET BANKING 2. Lý thuyết hành động hợp lý TRA Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA hoặc ToRA) được sử dụng để làm rõ mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong các hành động của con người. Ứng dụng chính của nó nằm ở việc dự đoán cách mà cá nhân có khả năng hành xử, dựa trên thái độ và ý định hành vi của họ từ trước.
Quyết định của một cá nhân để thực hiện một hành vi cụ thể dựa trên các kết quả mà họ mong đợi từ việc thực hiện hành vi đó (Fishbein & Ajzen, 1967). Hơn nữa, các nhà nghiên cứu quan tâm đến những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hành động của một chủ thể. Tuy nhiên, kết quả từ nhiều nghiên cứu đã chỉ ra một hạn chế của lý thuyết này, cho thấy ý định hành vi không luôn dẫn đến hành vi cụ thể. Một lập luận phản đối mối quan hệ mạnh mẽ giữa ý định hành vi và hành vi thực tế đã dẫn đến sự xuất hiện của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, một mô hình bao gồm ảnh hưởng của các yếu tố phi điều kiện đến hành vi.
Việc đánh giá thái độ đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng vì có mối quan hệ chặt chẽ được công nhận giữa thái độ và hành vi. Cần lưu ý rằng hai khái niệm này không thể hoán đổi; các chuyên gia đã phát hiện rằng thái độ chỉ chỉ ra ở một mức độ nhất định về khả năng áp dụng một số hành vi cụ thể. 7 Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975) Hình 2. Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 2.
Lý thuyết chấp nhận công nghệ Mô hình TAM, được đề xuất bởi Fred Davis và Richard Bagozzi (Davis, 1989; Bagozzi, 1992), để cung cấp một giải thích rõ ràng hơn về cách người tiêu dùng chấp nhận và áp dụng công nghệ, dựa trên sự phát triển của lý thuyết TRA và TPB. Có hai yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng: sự hữu ích được cảm nhận và sự dễ sử dụng được cảm nhận. Sự hữu ích được cảm nhận đề cập đến mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ cải thiện hiệu suất công việc của họ. Còn nhận thức về sự dễ sử dụng là mức độ mà một người cảm nhận rằng một hệ thống cụ thể có thể được sử dụng mà không cần nỗ lực đáng kể.
8 Nguồn: Davis, 1989; Davis, Bagozzi, & Warshaw (1989) Hình 2. Mô hình Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) 2. Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT Khả năng áp dụng công nghệ được nhận thức phụ thuộc vào tác động trực tiếp của bốn cấu trúc chính, đó là kỳ vọng về hiệu suất, kỳ vọng về nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và các điều kiện thuận lợi. Hiệu quả của các yếu tố dự đoán được kiểm duyệt theo độ tuổi, giới tính, kinh nghiệm và sự tự nguyện sử dụng (Venkatesh et al.
Hiệu suất kỳ gn gnvọng gn được định nghĩa là gn "mức gđộ mà gn một cá nhân tingnrằng việc sử gn dụng gn hệ thống sẽ giúp gn anh ta hoặc cô ta đạt được thành tích trong công gn việc" (Venkatesh gn et al. Kỳ vọng về Hiệu suất, phát sinh từ cấu trúc của Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM), TAM 2, TAM kết hợp UTAUT, Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (CAM TPB), Mô hình Động lực (MM), Mô hình Sử dụng Máy tính Cá nhân (MPCU), Lý thuyết Khuếch tán Sự đổi mới (IDT) và Lý thuyết Nhận thức Xã hội (SCT) (bao gồm tính hữu ích cảm nhận, động lực bên ngoài, phù hợp với công việc, lợi thế tương đối và kỳ vọng kết quả). Nó đứng ra là yếu tố dự đoán mạnh mẽ nhất về ý định sử dụng, chứng minh sự quan trọng trong cả hai môi trường tự nguyện và bắt buộc (Zhou, Lu & Wang, 2010; Venkatesh, Thong & Xu, 2016). Kỳ vọng về nỗ lực được định nghĩa là "mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng một hệ thống cụ thể" (Venkatesh và cộng sự, 2003).
Sự kỳ vọng về nỗ lực được hình thành dựa trên việc nhận thức về sự dễ sử dụng và sự phức tạp được thúc đẩy từ TAM, MPCU, IDT, thể hiện sự tương đồng trong cả định nghĩa và phương tiện đo lường. Tác động của yếu tố cấu trúc trở nên ít quan trọng sau thời 9 gian sử dụng công nghệ kéo dài (Gupta, Dasgupta & Gupta, 2008; Chauhan & Jaiswal, 2016). Ảnh hưởng xã hội được mô tả là "mức độ mà một cá nhân tin rằng những người quan trọng khác đều ủng hộ việc áp dụng hệ thống mới" (Venkatesh et al. Ảnh hưởng của yếu tố xã hội tương tự như các khái niệm như chuẩn mực chủ quan, yếu tố xã hội và hình ảnh được sử dụng trong TRA, TAM 2, TPB, CTAMTPB, MPCU, IDT, thể hiện rằng hành vi của cá nhân được điều chỉnh bởi nhận thức của người khác về họ.
Ảnh hưởng xã hội đặc biệt quan trọng khi việc sử dụng công nghệ trở thành bắt buộc (Venkatesh et al. Trong ngữ cảnh bắt buộc, người dùng có thể sử dụng công nghệ do tuân thủ yêu cầu chứ không phải do sở thích cá nhân (Venkatesh & Davis, 2000).