CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NHTM 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử NHĐT những năm gần đây luôn được đánh giá là vấn đề cấp thiết của ngành Ngân hàng nói chung và của nền kinh tế nói riêng. Chính vì tầm ảnh hưởng của nó nên rất nhiều người lựa chọn đề tài về dịch vụ NHĐT để nghiên cứu và cũng có những cách nhìn nhận, cách hiểu khác nhau.
Dịch vụ NHĐT tên tiếng anh là Electronic – Banking hay viết tắt là E – Banking và được NHNH giải thích trong quyết định số 35/2016/QĐ-NHNN ban hành vào 31/07/2016 quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NHĐT như sau: “Hoạt động NHĐT là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được TCTD xử lý để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”. Ngoài ra, khái niệm này còn được trình bày trong Giáo trình ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội của PGS. Phan Thị Thu Hà (2015) như sau: “Dịch vụ NHĐT là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện điện tử. Trong đó phương tiện điện tử sử dụng để toàn bộ quy trình và hệ thống phương tiện điện tử giao dịch như máy tính cá nhân, ATM, điện thoại.; hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu - giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý hàng ngân hàng giao dịch”.
Dịch vụ NHĐT (e-banking) được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây,. Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với CNTT và điện tử viễn thông. E-banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Hoàng Nguyên Khai, 2013).
6 Tổng kết lại, dịch vụ NHĐT là các dịch vụ của ngân hàng mà khách hàng có thể sử dụng thông qua Internet, trang web, hay mobile, POS… mà không cần trực tiếp ra quầy giao dịch. Khách hàng có thể thao tác các dịch vụ một cách nhanh chóng, đơn giản bằng cách kết nối với ngân hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử cung cấp Dịch vụ NHĐT bao gồm làm rất nhiều loại, trong đó có các dịch vụ chính sau đây: Thứ nhất, dịch vụ Internet Banking: đây là hình thức ngân hàng kết nối với khách hàng thông qua Internet như một kênh phân phối từ xa các sản của ngân hàng qua các thiết bị như: điện thoại, laptop, máy tính. Dịch vụ này ngày càng phát triển và mở rộng với các tính năng như: tra cứu thông tin tài khoản, chuyển tiền trong và ngoài hệ thống, gửi tiền tiết kiệm online, thanh toán hoá đơn, nộp học phí, thanh toán các khoản lãi vay, nộp thuế nội địa, in sao kê tài khoản,.
Khách hàng sử dụng dịch vụ này bằng cách đăng ký mở tài khoản Internet-banking và được cung cấp tài khoản bao gồm user name và password. Chính vì được giao dịch qua mạng toàn cầu nên tính bảo mật được khách hàng vô cùng quan tâm. Đây cũng chính là rủi ro, hạn chế của dịch vụ và đang được các ngân hàng lưu ý, nâng cao cải thiện mỗi ngày. Thứ hai, dịch vụ Mobile Banking: đây là một kênh phân phội khác bên cạnh Internet – Bạnking cho cho phép khách hàng thực hien cạc tính nạng tự xạ với ket nội mạng.
Tuy nhien, dich vu nạy hạn che hớn khi chí ket nội đựớc với thiet bi đien thộại di động thộng quạ cạc App cuạ ngạn hạng. Nhựng cung chính nhớ đạc điem khạc biet cuạ thiet bi di động mạ Mộbile – Bạnking cộ nhựng tính nạng đạc thu, tien ích hớn cạc thiet bi ket nội khạc nhự: bạộ mạt, mớ khộạ bạng Fạce ID, vạn tạy hạy quet cạmerạ đe thạnh tộạn bạng mạ QR Cộde,… Ngạy nạy, với sự phạt trien cuạ cộng nghe thfi đạ phạn đeu sớ hựu ít nhạt một chiec đien thộại di động. Chính ví vạy mạ đạy chính lạ dich vu NHĐT đựớc nhieu ngựới sự dung nhạt ví khạ nạng đạp ựng đựớc hạu het cạc nhu cạu cuạ ngựới dung đi kem sự tien ích nộ mạng lại. 7 Thứ ba, dịch vụ SMS Banking: là dịch vụ mà khách hàng được cung cấp các thông tin như số dư tài khoản, thông báo nhận (rút) tiền,….
thông qua tin nhắn SMS trên điện thoại di động. Khách hàng có thể nhận được thông báo ngay lập tức khi có phát sinh trên tài khoản của mình giúp họ cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, cụ thể. Tuy nhiên, từ đầu năm 2024, dịch vụ này tại các ngân hàng đồng loạt tăng phí dẫn đến khách hàng chuyển qua nhận thông báo qua email để có thể tiết kiệm chi phí hơn. Tuy nhiên, đây vẫn là dịch vụ tiện ích và được khách hàng sử dụng nhiều để nắm rõ tình hình tài khoản của mình.
Thứ tư, dịch vụ thẻ ngân hàng và ATM (Automatic Teller Machines) – cây rút tiền tự động: đúng như cái tên thì đây là một thiết bị thông minh dùng để rút tiền mặt mà chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy tại các điểm trên đường đi lại, không chỉ ở thành phố mà cả tại các vùng quê. Ngoài ra còn một số tính năng khách như: tra vấn thông tin số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán các hóa đơn, gửi tiền vào tài khoản,… Thay vì phải ra quầy giao dịch thì khách hàng có thể tìm đến cây ATM 24/24. Trước đây, khách hàng để sử dụng dịch vụ bắt buộc phải mang theo thẻ cứng (thẻ ATM; thẻ ghi nợ nội địa, quốc tế; thẻ tín dụng). Nhưng những năm gần đây, với sự thông minh của Mobile banking, khách hàng có thể rút tiền tại cây ATM bằng vài thao tác đơn giản trên điện thoại di động, đáp ứng được ngày càng nhiều những đòi hỏi của khách hàng về một ngân hàng tử tiện ích.
Với mỗi lần thực hiện dịch vụ, khách hàng sẽ cần phải nhập mã PIN riêng để đảm bảo tính an toàn, bảo mật cho khách hàng. Thứ năm, dịch vụ POS (Point of Sale) – hệ thống thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng: đây là một loại máy chấp nhận thanh toán hầu hết các loại thẻ ngân hàng và cho phép in ra hóa đơn dịch vụ của chủ máy. Đối tượng sử dụng thường là các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng buôn bán, siêu thị, rạp phim… gọi chung là ngưới bán đối với người tiêu dùng để xem như một phương thức thanh toán cho khách hàng dùng thẻ. Đây được xem như một phương thức thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, giúp cho người thu ngân và khách hàng tiết kiệm thời gian trong việc đếm tiền và kiểm kê tiền.
8 Thứ sáu, dịch vụ Call Center – trung tâm dịch vụ khách hàng: Bên cạnh những trường hợp đa số cần sự nhanh chóng, tiện ích thì số ít vẫn cần có sự giải đáp những, hỗ trợ trực tiếp từ các CBNV ngân hàng với khách hàng thông qua cuộc gọi điện thoại. Đây là hình thức khách hàng có thể tiết kiệm thời ra quầy giao dịch nhưng lại có nhược điểm là yêu cầy có nhân viên trực 24/24 cấc cuộc gọi của khách hàng. Một số sản phẩm được cung cấp thông qua dịch vụ Call center có thể kể đến như: cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin về các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền vay tiết kiệm, kiều hối .; giới thiệu, hỗ trợ đăng ký các sản phẩm thẻ, khuyến nghị cách sử dụng thẻ và thông báo số dư thẻ; tiếp nhận mọikhiếu nại, thắc mắc của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Ngoài ra, còn rất nhiều các dịch vụ ngân hàng ddienj tử khác như: Home Banking, Kiosk Banking, và rất nhiều các dịch vụ nhỏ kèm theo nhưu thanh toán hóa đơn, mua vé xem phim, vé tàu, máy bay, học phí,… được tích hợp trong các dịch vụ trên.
Tất cả các dịnh vụ đều đem lại sự thuận tiện cho cả khách hàng lẫn ngân hàng và được công chúng đón nhận sử dụng nhờ sự thông minh tiện ích của mình. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Thứ nhất, có tính bảo mật cao: các dịch vụ NHĐT được thiết kế với các biện pháp bảo mật cao nhằm đảm bảo an toàn cho thông tin và giao dịch của khách hàng. Hiện nay một số biện pháp bảo mật thường được các ngân hàng áp dụng như: mã hóa dữ liệu, xác thực 2 yếu tố (mã OTP SMS, mã Token, mã PIN), eKYC bằng khuôn mặt, vân tay, giám sát và phát hiện gian lận,… Thứ hai, dễ dàng tiếp cận và ngày càng trở nên đa dạng: với sự phát triển của công nghệ hiện đại thì dịch vụ NHĐT cho phép khách hàng truy cập và thực hiện các giao dịch ngân hàng một cách thuận tiện thông qua các thiết bị kết nối Internet như máy tính, điện thoại di động hoặc máy tính bảng,… mọi lúc mọi nơi. Chính vì vậy đối tượng khách hàng ngân hàng cso thể tiếp cận ngày càng được mở rộng.
Song song với đó đồi hỏi các dịch vụ NHĐT cũng phải ngày một đa dạng, phong phú và tiên tiến hơn để đáp ứng nhu cầu cao của thị trường và khách hàng. 9 Thứ ba, chứa hàm lượng CNTT lớn: CNTT là yếu tố quan trọng cho việc lưu trữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến diễn ra. CNTT cung cấp khả năng trao đổi thông tin tức thời, tăng cường hiệu quả quản trị ngân hàng và giảm chi phí giao dịch. Thứ tư, đòi hỏi trình độ nguồn nhân lực cao và yêu cầu vốn lớn: sử dụng NHĐT đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải có kiến thức vững về CNTT và hiểu biết về các nghiệp vụ ngân hàng để có thể áp dụng các ứng dụng CNTT vào thực tế.
Để làm được điều đó, Ngân hàng cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ hiện đại và đào tạo đội ngu nhân viên, đòi hỏi một nguồn vốn đáng kể để triển khai và duy trì hệ thống. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1.