Chương 1 trong Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) được ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004 có định nghĩa “siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng” (Bộ Thương Mại, 2004). Mặt dù hiện nay đang có rất nhiều định nghĩa cũng như quan điểm khác nhau về siêu thị, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản, siêu thị một là dạng cửa hàng bán lẻ hiện đại theo phương thức tự phục vụ có quy mô tương đối lớn, kinh doanh đa dạng các mặt hàng mà chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng hàng ngày. Khái niệm về “thực phẩm” và “thực phẩm hữu cơ” Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam (trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) giải nghĩa “thực phẩm là những vật phẩm có tác dụng nuôi sống con người. Thực phẩm qua quá trình đồng hoá và dị hoá cung cấp cho cơ thể lượng calo cần thiết để duy trì các hoạt động sống.
Nhu cầu thực phẩm của cơ thể phụ thuộc vào lứa tuổi, thể trọng, cường độ lao động, tình trạng sức khoẻ,… Trung bình mỗi tháng một người cần khoảng 60 kilogram thức ăn các loại. Theo thành phần hoá học, thực phẩm được chia thành: thực phẩm giàu đạm (cá, thịt, sữa, trứng,…), thực phẩm giàu chất đường (thóc gạo, bột mì, đường,…), thực phẩm giàu chất béo (lạc, vừng,…). Theo nguồn gốc, thực phẩm được chia thành thực phẩm có nguồn gốc động vật, thực phẩm có nguồn gốc thực vật, thực phẩm có nguồn gốc vi 8 sinh vật. Thực phẩm có loại ăn được ngay, có loại phải qua chế biến thì cơ thể mới hấp thu được”.
Thực phẩm (hay còn được gọi là thức ăn) là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích. Các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, thực phẩm có nguồn gốc động vật, vi sinh vật hay các sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia. Mặc dù trong lịch sử thì nhiều nền văn minh đã tìm kiếm thực phẩm thông qua việc săn bắn và hái lượm, nhưng ngày nay chủ yếu là thông qua trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt và các phương pháp khác (Bách khoa toàn thư Britannica - Encyclopaedia Britannica). Thực phẩm hữu cơ ( hay còn gọi là thực phẩm organic) là những thực phẩm được sản xuất theo phương thức và tiêu chuẩn của ngành nông nghiệp hữu cơ.
Đặc trưng của phương thức sản xuất này là thực phẩm được nuôi trồng trong môi trường hoàn toàn tự nhiên, đảm bảo đúng tiêu chuẩn cũng như quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dùng. Thực phẩm hữu cơ (thực phẩm organic) được chia làm 02 loại: + Thực vật: Phòng ngừa sâu bệnh bằng các phương pháp thủ công truyền thống, không được phép sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón nhân tạo,…. + Động vật: Ngừa bệnh bằng biện pháp tự nhiên và thường xuyên thả rông ngoài tự nhiên, không được phép sử dụng hormone kích thích sinh trưởng và kháng sinh, hoặc những sinh vật biến đổi gen (GMO),…. Bên cạnh đó, sản phẩm chế biến sẵn không được dùng chất bảo quản, chất tạo màu, chất làm ngọt nhân tạo, hương liệu hay bột ngọt (MSG-mì chính),….
Khái niệm người tiêu dùng Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association – AMA), “Người tiêu dùng là người cuối cùng sử dụng, tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, 9 dịch vụ nào đó. Người tiêu dùng cũng được hiểu là người mua hoặc ra quyết định như là người tiêu dùng cuối cùng”. Trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành năm 2010 có định nghĩa “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010). Theo Kotler và Armstrong (2011), người tiêu dùng nói chung thường được phân chia thành hai nhóm cơ bản: người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùng tổ chức.
Người tiêu dùng cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ để phục vụ mục đích tiêu dùng cho chính cá nhân họ, cho gia đình, người thân, bạn bè. Người tiêu dùng này còn được gọi là “người tiêu dùng cuối cùng”. Người tiêu dùng tổ chức bao gồm các tổ chức kinh doanh (doanh nghiệp), đơn vị hành chính sự nghiệp,… Họ là những người mua hàng hóa, dịch vụ nhằm sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ khác để bán, cho thuê hoặc cung cấp cho người khác. Trong nghiên cứu này, khách hàng mà tác giả đề cập đến để tiến hành nghiên cứu khảo sát là người tiêu dùng cá nhân – “người tiêu dùng cuối cùng”.
Khái niệm hành vi người tiêu dùng Cho đến nay, trên thế giới đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu tiêu dùng, cụ thể: Hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm…đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng (Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ – American Marketing Association). Theo Michael và cộng sự (2006), hành vi người tiêu dùng là một tiến trình cho phép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại 10 bỏ một sản phẩm, dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ.
Theo James và cộng sự (2001), hành vi tiêu dùng là toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm, dịch vụ. Nó bao gồm cả những quá trình ra quyết định diễn ra trước, trong và sau các hành động đó. Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ khi nhận biết nhu cầu cho đến khi mua và cả sau khi sử dụng sản phẩm. Trong marketing, người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ.
Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình (Kotler, 2003). Tóm lại, tùy theo cách nhìn nhận và lý giải của từng nhà nghiên cứu mà họ có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng. Nhưng nhìn chung, tất cả các khái niệm về hành vi người tiêu dùng đều xoay quanh hành động của người tiêu dùng trước, trong và sau khi mua sản phẩm, dịch vụ, bao gồm quá trình nhận biết, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và phản ứng sau khi mua. Khái niệm quyết định mua của người tiêu dùng Quyết định mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc ra trong quá trình tìm hiểu, mua sắm, đánh giá cho sản phẩm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ.
Có thể coi quyết định mua của người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình ( tiền bạc, thời gian, công sức,…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Những điểm đặc thù của thực phẩm hữu cơ - Đặc điểm của thực phẩm hữu cơ (organic) + Thực phẩm hữu cơ là đảm bảo an toàn sức khỏe của con người cũng như cân bằng hệ sinh thái và bảo tồn sự đa dang sinh học. Tuy nhiên, giá thành của chúng khá cao hoặc cao hơn rất nhiều do chi phí sản xuất của thực phẩm hữu cơ thường nhiều hơn 20 % so với các loại sản phẩm thông thường. + Các sản phẩm hữu cơ đều được gắn nhãn theo từng cấp bậc và chỉ những loại sản phẩm mà thành phần hữu cơ chiếm đến 95-100% mới được gắn nhãn chứng nhận “100% organic” và “organic” của các tổ chức uy tín thế giới như USDA (Mỹ), JAS ( Nhật Bản),….
+ Do sự nhận thức về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như bảo vệ môi trường đang rất được quan tâm và chú trọng nên ngày nay càng có nhiều người tiêu dùng tìm hiểu, bị thuyết phục và tin tưởng vào những lợi ích bền vững mà thực phẩm hữu cơ đem lại. - Lợi ích và giá trị dinh dưỡng của thực phẩm hữu cơ (organic) + Lợi ích:. Do được canh tác theo phương thức không chứa thuốc trừ sâu, phân bón nhân tạo và các dư lương hóa chất khác nên thực phẩm hữu cơ tốt hơn cho sức khỏe của người dùng. Thực phẩm hữu cơ thúc đẩy sự bền vững của hệ sinh thái cũng như bảo vệ môi trường sống của chúng ta.
Thực phẩm hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng như vitamin và khoáng chất tốt hơn so với những sản phẩm được canh tác theo phương thức thông thường khác. + Giá trị dinh dưỡng: Ngoài những lợi ích mà chúng đem đến cho môi trường và hệ sinh thái, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực phẩm hữu cơ (organic) có những chỉ số hàm lượng các chất dinh dưỡng tốt hơn so với những loại thực phẩm thông thường: 12. Hàm lượng chất chống oxy hóa (antioxidants) cao hơn. (Chất chống oxy hóa giúp bảo vệ cơ thể khỏi các tế bào gây bệnh trên con người cũng như tăng hệ miễn dịch của vật nuôi.
Hàm lượng nitrat (nitrate) thấp hơn.