MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết: Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay việc áp dụng các quy trình sản xuất mới hiện đại áp dụng các công nghệ mới. Đem lại hiệu quả kinh tế cao là một nền nông nghiệp được ứng dụng kết hợp những công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất, còn gọi là công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế giá trị cho nghành nông nghiệp, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội đảm bảo về tình hình an ninh lương thực thế giới và đảm bảo sự phát triển cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững. Việc áp dụng công nghệ cao được tích hợp ứng dụng trong phát triển nông nghiệp bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến.), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học; các giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao.
các quy trình canh tác tiên tiến, canh tác hữu cơ. cho hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị sản xuất. Việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đã được áp dụng cụ thể trên từng khâu của quy trình kỹ thuật cụ thể và áp dụng cho từng sản phẩm để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật của mỗi vùng tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện nhân tạo của từng nơi nhằm mục đích cao nhất mà con người mong muốn.
Nhật Bản là quốc gia rất thành công trong việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Một trong những nơi như thế tại Nhật Bản đó là khu làng thần kỳ Kawakami. Kawakami là một ngôi làng nằm ở huyện Minamisaku thuộc tỉnh Nagano nằm ở phía nam trung tâm, thuộc vùng Chubu của Nhật Bản, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 1.185m, nhờ Luan van 2 vào địa hình cao vậy mà nơi đây nghề trồng rau rất phát triển, và nơi đây nổi tiếng trên toàn đất nước Nhật Bản về rau xà lách, cải thảo, súp lơ, cải bắp. Rau xà lách là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên và chịu lạnh tốt nên được người nông dân sử dụng để sản xuất.
Giống có thời gian sinh trưởng khoảng từ 55 - 60 ngày, đây là giống có thể áp dụng vào trồng tại Việt Nam ở vụ thu đông. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu quy trình sản xuất rau xà lách an toàn tại trang trại Hiroyasu Hayashi, làng Kawakami,tỉnh Nagano, Nhật Bản”. Mục dích và yêu cầu 1. Mục đích Thực hiện được các bước cụ thể trong quy trình sản xuất xà lách an toàn tại trang trại Hiroyasu Hayashi , làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản qua đó rút ra bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả của sinh viên đi thực tập tại doanh nghiệp hoặc trang trại nước ngoài.
Yêu cầu - Điều tra sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản. - Đánh giá hiện trạng sản xuất, kinh doanh của trang trại của trang trại. - Tìm hiểu về quy trình sản xuất rau xà lách an toàn tại trang trại Hiroyasu Hayashi, làng Kawakami. - Xác định thuận lợi, khó khăn, định hướng phát triển rau xà lách của trang trại Hiroyasu Hayashi.
Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm, yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cây rau xà lách 2. Đặc điểm cây rau xà lách Đặc điểm thực vật học cây rau xà lách: Rễ xà lách: hệ rễ cọc, ăn nông trên bề mặt đất, ăn rộng 20 - 30cm, bởi vậy cây không chịu ngập úng, lớp đất mặt cần độ tơi xốp, giàu dinh dưỡng để rễ hút thức ăn dễ dàng. Thân xà lách:Thân có loại thân ngắn như xà lách cuộn, có loại thân thẳng, dài như rau diếp.
Lá xà lách: Có nhiều lớp, có loại xanh đậm, có loại xanh nhạt, loại cuộn có lá trong màu trắng ăn ngon mềm hơn lá ngoài. Hoa xà lách: Chùm hoa dạng bầu, chứa số lượng lớn các hoa nhỏ kết chặt với nhau trên một đế hoa. Hoa có 5 đài, 5 nhị cái và 2 lá noãn, hoa tự thụ, hạt phấn và lá noãn có độ hữu thụ cao. Hoa nở từ lúc có ánh sáng mặt trời đến trưa, thụ phấn tốt nhất lúc 9 - 10 giờ sáng.
Quả xà lách: Loại quả bế, hạt không có nội nhũ [7].2 Yêu cầu sinh thái và sinh dưỡng của cây rau xà lách Cây rau xà lách yêu cầu điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng dưỡng của xà lách là 15 – 180C. Nhiệt độ thích hợp cho cây phát triển là 200C vào ban ngày và 180C vào ban đêm. Nhiệt độ cao trên 220C là mầm hạt kéo dài và làm giảm chất lượng của lá và bắp. Ánh sáng: Thường giai đoạn đầu của cây cần ánh sáng nhiều hơn giai đoạn sau.
Quang chu kỳ gây ảnh hưởng đến sự phát triển và phân hóa mầm hoa của cây. Ánh sáng ngày dài ảnh hưởng đến diện tích lá, sinh trưởng của cây và sự hình thành bắp, nhưng không ảnh hưởng đến hình thành lá. Luan van 4 Độ ẩm: Xà lách là cây ưa ẩm, độ ẩm đồng ruộng thích hợp nhất là 70 - 80%, độ ẩm không khí là 65% - 75%. Yêu cầu đất và dinh dưỡng cây trồng: Yêu cầu về đất: Xà lách ưa cát pha đến thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng và nhiều chất hữu cơ.
Độ pH thích hợp nhất cho xà lách là 6 - 6,5. Làm đất: Rau xà lách có thể trồng trên nhiều loại đất nhưngthích hợp nhất vẫn là đất thịt nhẹ, nhiều mùn,bằng phẳng (làm đất gieo xà lách cần phải băm nhỏ kỹ), đất dễ thoát nước, đất được cày, phơi ải từ 5-7 ngày trước khi lên luống mới. Đất được cày xới và dọn sạch tàn dư thực vật, bón vôi (để nâng ph lên 5.6) cày trộn đều trong đất phơi ải 1- 2 tuần (có thể dùng các hóa chất, chế phẩm xử lý đất như: Nokap, Mocap, Sincosin, .) sau đó lên luống rộng 1 m, chiều cao luống từ 20- 25cm (tùy theo mùa), rãnh luống rộng 30 cm, chiều dài luống tuỳ theo kích thước thửa ruộng. Bón phân lót, xới và trộn đều phân.
Chuẩn bị đất kỹ tươi xốp, nhặt sạch cỏ dại tàn dư cây trồng vụ trước, nếu có điều kiện phơi khô khoảng một tuần và đảo lớp đất mặt xuống dưới để thoáng khí cho cây trồng sinh trưởng tốt đồng thời hạn chế các sâu bệnh cư trú trong đất [7]. Phân loại xà lách 1. Xà lách Mỹ (Iceburg Lettuce hay Iceberg/crisphead) Lớp lá bên ngoài xanh hơn và lớp lá bên trong trắng hơn. Loại này phổ biến nhất vì có kết cấu lá giòn, mùi vị nhẹ nhàng và có nhiều nước.
Nó là một nguồn chứa nhiều chất choline (Một chất amin tự nhiên, C5H15NO2, thường được xếp vào loại vitamin B complex, và là thành phần của nhiều phân tử sinh học quan trọng khác, chẳng hạn như acetylcholine và lecithin). Xà lách Romaine (Romaine Lettuce) Có lá xanh đậm và dài. Nó có kết cấu lá giòn và hương vị đậm đà hơn các loại khác. Là một nguồn chứa nhiều vitamin A, C, B1 và B2, và axit folic.
Xà lách mỡ (Butterhead Lettuce) Đây là loại xà lách có lá lớn và được sắp xếp “lỏng lẻo”, và rất dễ dàng tách ra từ thân của nó. Nó có kết cấu lá mềm hơn, với hương vị ngọt ngào so với họ hàng của nó. Xà lách lô lô (Loose-leaf Lettuce) Như tên gọi của nó, loại này có hai loại (Xà lách lô lô xanh và xà lách lô lô tím), lá sắp xếp rời rạc, có tàng lá rộng và xoăn. Nó có hương vị nhẹ và kết cấu lá hơi giòn.
Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam, Nhật Bản 2. Tình hình sản xuất rau thế giới Rau cung cấp cho con người nhiều chất dinh dưỡng cần thiết như: vitamin, chất khoáng axít hữu cơ và nhiều chất bổ khác…Phát triển sản xuất rau còn có ý nghĩa cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm phát triển và là nguồn xuất khẩu có giá trị. Sản xuất rau quả nói chung là ngành có hiệu quả và thu nhập khá cao trong ngành trồng trọt. Có khả năng thu hút nhiều lao động và giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt theo hướng đa dạng hóa sản phẩm với chất lượng cao.
Với ý nghĩa to lớn trên rau được phát triển và trở thành một ngành sản xuất quan trọng không thể thiếu được trong nông nghiệp. Luan van 6 Bảng 2. Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2009 - 2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Chỉ tiêu (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2009 49,67 18,17 902,93 2010 50,90 18,14 923,73 2011 52,36 18,28 957,19 2012 53,78 18,23 980,534 2013 54,82 18,23 1000,03 2014 55,43 18,64 1033,91 2015 56,77 18,57 1055,87 2016 57,07 18,73 1073,48 2017 57,37 18,81 1083,46 2018 57,88 18,81 1088,83 (Nguồn: FAO 2020) Qua bảng số liệu 2.1 cho thấy : Năng suất và diện tích trồng rau trên thế giới đều tăng nên sản lượng rau cũng tăng đều qua các năm. Năm 2009 có sản lượng thấp nhất là 902,93 triệu tấn, năm 2018 đạt 1.088,83 triệu tấn, tăng 185,9 triệu tấn so với năm 2009.
Diện tích trồng rau trên thế giới giai đoạn 2009 – 2018 tăng đều qua các năm. Năm 2009 cả thế giới trồng được 49,67 triệu ha, năm 2018 là 57,88 triệu ha, tăng 8,21 triệu ha so với năm 2009. Trung bình mỗi năm tăng 0,821 triệu ha. Năng suất rau biến động không nhiều, năm 2010 có năng suất thấp nhất là nhất là 18,14 tấn/ha, năm 2018 năng suất rau đạt cao nhất là 18,81 tấn/ha, tăng 0,67 tấn/ha so với năm 2010.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ tại Việt Nam Diện tích trồng rau của Việt Nam khá lớn tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 ngàn tấn; so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm). Vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐBSH (chiếm 24,9% về diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp đến vùng ĐBSCL (chiếm 25,9% về diện tích và 28,3% sản lượng rau của cả nước).