chương 1 trình bày kết cấu của đề án. ” ““ ” 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TIỀN GỬI NGÂN HÀNG 2. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 48/2018/TT-NHNN thì “TGTK là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại TCTD theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với TCTD.” Theo Lê Thị Thu Hằng (2012), “TGTK NH là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TK tại NH với mong muốn gia tăng giá trị hiện có, đảm bảo sự bảo mật và thuận tiện khi cần sử dụng.” Tóm lại, một khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TK tại NH được gọi là “ ” “ ” TGTK.
Khi mở tài khoản TGTK, khách hàng sẽ được trả một khoản lợi nhuận nhất định do NH chi trả dựa trên mức lãi suất được áp dụng. Sau khi gửi vào NH, khách hàng sẽ được cấp sổ/thẻ tiết kiệm, trong đó ghi lại thông tin chứng nhận về số tiền đã gửi, đồng “ ” thời sẽ ghi lại số lần gửi tiền để khách hàng thuận tiện trong việc theo dõi và tất toán tiền nếu cần thiết. Phân loại tiền gửi tiết kiệm 2. Căn cứ theo kỳ hạn gửi tiền Theo Trầm Thị Xuân Hương và ctg (2012) phân loại theo kỳ hạn gửi tiền thì TGTK sẽ được phân loại thành TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn gồm kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn.
TGTK không kỳ hạn: là khoản tiền TK không ấn định kỳ hạn gửi và số tiền gửi, với mức lãi suất được giữ cố định trong suốt thời gian khách hàng gửi tiền tại NH. Chủ tài khoản có quyền rút một phần số tiền gửi hoặc tất toán tài khoản bất cứ lúc nào với mức lãi suất như ban đầu mà không cần chờ tới cuối kỳ. Do tính chất không ổn định nên lãi suất của tiền gửi TK này rất thấp. TGTK có kỳ hạn : là khoản tiền của khách hàng gửi tại các TCTD trong một thời “ ” hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và TCTD với nguyên tắc hoàn trả đầy “ đủ tiền gốc , tiền lãi cho khách hàng.
Trong trường hợp vào ngày đến hạn, khách hàng ” không tất toán khoản tiền gửi, tùy vào chính sách mà NH sẽ tự động tái tục gốc lẫn lãi 6 thêm một kỳ hạn bằng kỳ hạn ban đầu của khách hàng hoặc sẽ tự động chuyển gốc và “ lãi về TKTT cho khách hàng. Căn cứ theo chủ thể gửi tiền Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp: Đây là hình thức mà các doanh nghiệp sử dụng khi có khoản tiền rảnh rỗi chưa dùng đến hoặc khoản tiền đã có kế hoạch đầu tư sinh lời trong tương lai từ vài tháng đến vài năm. TGTK của cá nhân: Là số tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được ghi nhận thông tin trên sổ/thẻ TK và hưởng lãi suất tại thời điểm gửi tiền theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi. Căn cứ theo phương pháp trả lãi Hình thức TK trả lãi sau là khi TK trả lãi vào ngày đáo hạn.
Khi đến ngày đáo hạn, nếu khách hàng muốn tất toán khoản TGTK, số tiền gốc và lãi sẽ được chuyển vào TKTT của khách hàng tại tổ chức nhận tiền gửi. Nếu khách hàng tái đáo hạn, tiền lãi sẽ được tính vào số tiền gốc và gửi tiếp tục thêm một kỳ hạn. Hình thức TK trả lãi trước là khi TK trả lãi ngay khi khách hàng gửi tiền. Vào ngày đáo hạn, khách hàng chỉ nhận được một phần tiền gốc, số tiền này bằng chính số tiền đã ghi trên sổ/thẻ TK của khách hàng tại tổ chức nhận TGTK.
Hình thức TK trả lãi định kỳ là khi TK trả lãi theo kỳ hạn mà khách hàng và NHTM đã thỏa thuận. Vào kỳ tính lãi, khách hàng được quyền rút phần lãi của kỳ đã đăng ký vào bất kỳ ngày làm việc nào của NH. Trường hợp ngược lại, NH sẽ chỉ thực hiện sao kê tính lãi và nếu đến hết kỳ tính lãi cuối cùng, số tiền lãi chưa nhận sẽ được gộp vào số tiền gốc. Căn cứ theo phương thức nộp số tiền gốc TK gửi một lần: Là loại hình TK mà khách hàng chỉ gửi tiền vào NHTM một lần cho đến lúc đáo hạn.
Với loại hình này, NH không tốn nhiều chi phí quản lý do số dư trên TKTK của khách hàng không biến động. Chính vì vậy mức lãi suất của loại tiền gửi này cao. TK gửi nhiều lần: Là hình thức TK mà định kỳ đã đăng ký với NHTM, khách hàng gửi vào NH một số tiền , trong đó số tiền gửi từng lần có thể cố định hoặc thay đổi theo ” 7 khả năng của khách hàng. Lãi suất TK của loại tiền này thường thấp hơn lãi suất TK thông thường.
Căn cứ theo hình thức gửi tiền TGTK tại quầy: Đây là hình thức gửi TK truyền thống và thường xuyên được thực hiện tại các NHTM, với hình thức này người gửi tiền cần trực tiếp đến NH, mang theo các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục gửi TK. TGTK trực tuyến: Với công nghệ hiện đại, các NH đều có trang web trực tuyến, NH điện tử cài đặt trên điện thoại. Nhờ đó mà NHTM đã phát triển sản phẩm TGTK trực tuyến. Loại hình tiền gửi này giúp khách hàng được giao dịch tại bất cứ địa điểm nào có kết nối internet.
TGTK trực tuyến giúp khách hàng không phải ra quầy, NHTM được lợi ích trong vấn đề quản lý TKTG vì không cần phải in ấn chứng từ, sổ/thẻ tiết kiệm, vì vậy hình thức này thường có LSTG được cộng biên độ ít nhất từ 0.2% so với lãi suất gửi tại quầy. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Theo Nguyễn Đăng Dờn (2012), nghiệp vụ trọng yếu nhất của NH là nghiệp vụ HĐV, tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho NH nhưng nghiệp vụ này mang ý nghĩa sâu sắc đối với NH. Vì vậy, NH phải chủ động hơn trong việc kinh doanh, tạo uy tín và nâng tầm vị thế cạnh tranh của NH để thu hút được vốn từ khách hàng. Mỗi NHTM kể từ khi được cấp phép thành lập, phải tuân thủ quy định về vốn điều lệ do NHNN đề ra.
Để duy trì và mở rộng quy mô, NH cần phải huy động nguồn lực từ khách hàng, đây là một trong những hoạt động đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với “ sự bền vững của NHTM và tạo sự tin cậy từ phía khách hàng. Điều này giúp NH tăng uy tín và tín nhiệm từ khách hàng, từ đó cải thiện và đổi mới hoạt động HĐV, cũng như rộng mở mối quan hệ với khách hàng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG 2. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 2.
Khái niệm hành vi của người tiêu dùng Theo Blackwell và ctg (2006) đã đề xuất rằng: “Hành vi của người tiêu dùng là các hoạt động do người tiêu dùng tiến hành tìm kiếm và tiêu dùng SPDV. Những hoạt động 8 này có thể bao gồm nghiên cứu sản phẩm, so sánh giá, mua hàng trực tuyến hoặc tại cửa hàng, đánh giá chất lượng sản phẩm,.Hành vi của người tiêu dùng cũng có thể bao gồm các lựa chọn về việc sử dụng SPDV, bao gồm việc sử dụng trong cách thức đúng đắn và bảo quản chúng. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng Hình 2.1 - Sơ đồ quá trình ra quyết định của người tiêu dùng Theo Philip Kotler (2012), có 5 giai đoạn cho quá trình ra quyết định của người mua: nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá và lựa chọn phương án, quyết định mua hàng và giai đoạn sau khi mua hàng. • Nhận thức nhu cầu Với khách hàng thường xuyên dùng SPDV do NH cung cấp, nhu cầu có thể đã được kích hoạt bởi các kích thích bên trong (như nhu cầu tiếp cận tiền mặt, tăng lợi nhuận) hoặc các kích thích bên ngoài (như tiếp thị hoặc truyền miệng từ mọi người xung quanh).
Ở giai đoạn đầu này, các nhà tiếp thị nên tìm hiểu về các dạng nhu cầu hoặc vấn đề có thể nảy sinh, điều gì khiến nhu cầu nảy sinh và có tác động đến nhu cầu dùng của khách hàng. • Tìm kiếm thông tin “ Tìm hiểu, tra cứu thông tin khi đã nhận ra một vấn đề hoặc nhu cầu, bước tiếp theo ” là giai đoạn tìm kiếm thông tin, để tìm ra giải pháp tốt nhất mà họ cảm thấy. Khách hàng có thể dựa vào báo in, hình ảnh, phương tiện trực tuyến hoặc truyền miệng để thu thập thông tin. Người tiêu dùng thường có phần lớn thông tin của họ từ các nguồn thương mại do các công ty và nhà cung cấp cung cấp thông qua các hình thức quảng cáo , nhưng “““ ”” 9 nguồn thông tin có hiệu quả nhất là các nguồn từ cá nhân.
Do đó, các nhà tiếp thị phải xác định nguồn các luồng dữ liệu mà người dùng tiếp cận được. • Đánh giá và lựa chọn phương án Khách hàng tự đánh giá và quyết định lựa chọn nào gần nhất với ý định của mình. “ ” Trong giai đoạn này, người tiêu dùng tiếp nhận thông tin để so sánh, đánh giá sản phẩm và cuối cùng đưa ra quyết định mua hàng. Mọi người đều có ý kiến khác nhau về thương hiệu, tùy thuộc vào từng người và tình huống mua hàng cụ thể của họ.
Hầu hết khách hàng lựa chọn dựa trên các yếu tố như giá cả, hình thức, chất lượng và thông số kỹ thuật, mỗi yếu tố đều có một ý nghĩa khác nhau. • Quyết định mua hàng Đây là giai đoạn cuối cùng trong tiến trình mua hàng của khách hàng. Theo Philip Kotler (2009) cho rằng quyết định cuối cùng có thể bị “phá vỡ” qua hai yếu tố: phản hồi tiêu cực từ các khách hàng khác và mức độ động cơ chấp nhận phản hồi. Hơn nữa, quyết định có thể bị gián đoạn do các tình huống không lường trước được như mất việc đột ngột hoặc chuyển địa điểm khác.
• Giai đoạn sau khi mua hàng Đây là giai đoạn mà sự trải nghiệm của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến quyết định “ ” “ ” của họ trong tương lai. Khách hàng sẽ so sánh sản phẩm với kỳ vọng của họ và dựa vào đó để đánh giá hài lòng. Sự hài lòng của khách hàng có thể dẫn đến sự trung thành với “ ” “ thương hiệu , khi họ có thể quay lại và tiếp tục ủng hộ cũng như giới thiệu cho những ” “ người thân. Ngược lại, nếu sản phẩm không đáp ứng được mong đợi, khách hàng sẽ rất ”” thất vọng và các giai đoạn này có thể bị đánh giá nhanh chóng hoặc bị bỏ qua hoàn toàn.