Chương 1 tác giả đã trình bày về các vấn đề cần nghiên cứu cũng như là các phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu này. Tác giả đã đặt ra các vấn đề cơ bản của đề tài như lý do chọn đề tại, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Đây được xem như là nền tảng để hoàn thiện các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Tổng quan về lợi nhuận của NHTMCP 2. Khái niệm Theo Sundaram & Varshney (2020), lợi nhuận của NHTMCP là việc ngân hàng tạo ra thu nhập và lợi nhuận một cách bền vũng từ việc kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ thanh toán của mình. Lợi nhuận của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như mô hình kinh doanh, môi trường pháp lí, khả năng lãnh đạo của người đứng đầu, … Lợi nhuận được tạo ra chủ yếu từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, bên cạnh đó ngân hàng cũng có thể kiếm được lợi nhuận từ các dịch vụ như hỗ trợ thanh toán, tư vấn đầu tư, phí từ các dịch vụ thường niên, …. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng có thể tham gia vào các HĐKD mà ngân hàng đầu tư để tạo ra lợi nhuận.
Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải chịu rủi ro ảnh hưởng đến lợi nhuận như rủi ro về tính thanh khoản, rủi ro chất lượng tín dụng và rủi ro hoạt động, Vì thế, để tối đa hoá lợi nhuận, ngân hàng cần có các chính sách quản lí các rủi ro này một cách hiệu quả và thích nghi với các biến động vĩ mô trong nền kinh tế cũng như trên thế giới. Theo Rose (2002) thì NHTMCP về bản chất cũng được xem như là một đơn vị kinh doanh với mục đích cuối cùng là hướng đến lợi nhuận đi kèm với một phạm vi rủi ro có thể chấp nhận được. Lợi nhuận là đích đến được các ngân hàng hướng tới vì lợi nhuận càng cao sẽ giúp ngân hàng bảo toàn được nguồn vốn, mở rộng thị trường cũng như là thu hút được nguồn vốn. Lý thuyết sức mạnh thị trường Lý thuyết cấu trúc - hành vi - hiệu suất (SCP) được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như Short (1979), Bourke (1989), Molyneux (1989).
Lý thuyết tiếp cận theo hướng rằng các ngân hàng có thể thông đồng khai thác lợi thế độc quyền trong các thị trường tập trung bằng cách cung cấp lãi suất 7 tiết kiệm thấp hơn và lãi suất cho vay cao hơn. Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng thu được cũng sẽ cao hơn. Lợi nhuận của các NHTM có thể được xác định dựa vào mức độ tập trung của thị trường. Vì thế, lý thuyết SCP giải thích cấu trúc thị trường ( mức độ tập trung của thị trường) thông qua hành vi của của các NHTM sẽ xác định được lợi nhuận của các ngân hàng đó.
Kết luận lại, lý thuyết SCP cho rằng chỉ tồn tại một chiều hướng tác động là từ cấu trúc thị trường đến hành vi của ngân hàng và cuối cùng là lợi nhuận. Lý thuyết hiệu quả - cấu trúc Lý thuyết hiệu quả - cấu trúc được giới thiệu lần đầu bởi Demsetz (1973) nhằm phản biện lại lý thiếu cấu trúc – hành vi - hiệu suất. Trong nghiên cứu của Smirlock (1985) đối với hơn 2700 đơn vị ngân hàng chỉ ra rằng sự tập trung thị trường không phải là một sự kiện ngẫu nhiên mà là kết quả của việc trong các ngành công nghiệp xuất hiện một số công ty sở hữu mức độ hiệu quả cao hơn. Giả thuyết này cho rằng các công ty hiệu quả tăng kích thước và thị phần của mình do khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, điều này thường dẫn đến sự tập trung thị trường cao hơn.
Ý tưởng này được áp dụng với ngành ngân hàng khi các ngân hàng có trình độ quản lí vượt trội cũng như công nghệ tiên tiến thì thường chi phí sẽ thấp hơn và vì thế lợi nhuận của ngân hàng sẽ cao hơn. Lý thuyết ưa thích chi phí Lý thuyết ưa thích chi phí được giới thiệu bởi Becker (1957) nhằm giải thích lợi nhuận của các ngân hàng được nghiên cứu. Lý thuyết này đề cập rằng mục tiêu chính mà ban lãnh đạo của các ngân hàng hướng tới không phải là tối đa hoá lợi nhuận mà là sở hữu các tiện ích của ngân hàng, điều này thường có được thông qua việc tăng lương hoặc gia tăng một số chi phí khác. Có thể nói rằng, ban lãnh đạo muốn mở rộng quy mô với số lượng nhân viên lớn hơn, có nhiều chi nhánh hoặc phòng giao dịch hơn nhằm đem lại hiệu quả cao hơn thì sẽ ưa thích phân bổ thêm vào các nguồn này.
Khi 8 quy mô của ngân hàng được gia tăng thì dường như lợi nhuận của ngân hàng cũng được cải thiện. Quan điểm này cũng đã xuất hiện trong các nghiên cứu của Manaseer (2007), Williamson (1963),… 2. Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận của NHTMCP Hiện nay, lợi nhuận của các ngân hàng thường được đo lường bằng các chỉ số tài chính như Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ( ROA - Return on Assets) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity). Bên cạnh hai chỉ tiêu trên, vì ngân hàng là một ngành đặc thù nên xuất hiện thêm một chỉ tiêu khác đó chính là Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ( NIM- Net Interest Margin ).
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ( ROA- Return on Assets) Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản ROA là chỉ tiêu dùng để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp trên mỗi đồng tài sản. Chỉ số này dùng để xác định hiệu suất hoạt động, hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao thì càng chứng tỏ ngân hàng có các chính sách kinh doanh và đầu tư hiệu quả. Theo Ong Tze San (2012) ROA thể hiện được rằng có bao nhiêu lợi nhuận mà ban lãnh đạo có thể phân bổ từ tổng tài sản.
Từ đó, ROA có thể dùng như là một thước đó để đánh giá sự hiệu quả từ việc chuyển hoá tổng tài sản thành lợi nhuận. ROA được đánh giá cao trong việc sử dụng làm thước đo KNSL của ngân hàng vì lí do chính là ROA ít chịu ảnh hưởng của các công cụ đòn bẩy tài chính. Hiện nay, có nhiều bài nghiên cứu đã dùng chỉ số ROA làm thước đo như: (Anh, 2023), (Trinh, 2023), (Ong Tze San, Teh Boon Heng, 2012). Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu( ROE- Return on Equity) Lợi nhuận sau thuế ROE = Tổng vốn chủ sở hữu Theo Rose (2002), ROE dùng để đo lợi nhuận kế toán của ngân hàng trên tổng vốn chủ sở hữu, từ đó thể hiện mức độ hiệu quả quản lí và đưa ra các chiến lược của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc sử dụng VCSH để tìm kiếm lợi 9 nhuận.
Theo Ong Tze San (2012), ROE có thể chia thành hai cấu phần bao gồm chỉ số đòn bẩy và ROA. Chỉ số đòn bẩy được tính bằng công thức tổng tài sản chia cho tổng vốn chủ sở hữu, từ đó có thể biết được mức độ sử dụng đòn bẩy của mỗi ngân hàng. Trong ngắn hạn, ROA dùng để đánh giá KNSL của ngân hàng bằng góc nhìn tổng quát về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của ngân hàng. Trong khi đó, ROE dùng để đánh giá KNSL của ngân hàng bằng góc nhìn tổng quát về mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn của các cổ đông.
Bên cạnh ROA thì ROE cũng được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu về KNSL của ngân hàng như: (Nguyễn Việt Trinh, 2023), ( Lê Văn Lễ, 2020), (Gul, 2011)… 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Trong bài nghiên cứu này, tác giả chia nhóm yếu tố tác động thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố vi mô và nhóm các yếu tố vĩ mô. Nhóm các yếu tố vi mô là các yếu tố ảnh hưởng nội bộ trong các ngân hàng và có thể kiểm soát được bởi các chính sách của các NTHM. Trong khi đó, các yếu tố vĩ mô phụ thuộc vào các biến động trong và ngoài nước, không thể dự đoán được bởi các ngân hàng.Các yếu tố vi mô Quy mô ngân hàng Theo Gul (2011) quy mô ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.
Khi ngân hàng có quy mô lớn, mạng lưới các chi nhánh dày đặc, có thể thuận tiện cho khách hàng tìm đến hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn. Bên cạnh đó, với quy mô lớn, ngân hàng có thêm điều kiện để có thể nâng cao trình độ của nhân viên, phát triển hệ thống và lắp đặt thêm các thiết bị hiện đại giúp cho các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trở nên đa dạng hơn. Theo nghiên cứu của Adem & Deger (2011), Abugamea (2018) sử dụng dữ liệu cân bằng thực hiện đo lường lợi nhuận của ngân hàng qua ROA và ROE, kết quả cho thấy qui mô của ngân hàng đều tác động tích cực đến 2 chỉ số trên. 10 Đồng thuận với kết quả trên, bài nghiên cứu của Nguyễn Trần Thịnh (2013) cũng đưa ra nhận xét rằng lợi nhuận ngân hàng và quy mô ngân hàng có mối quan hệ đồng biến.
Khi gia tăng tài sản ngân hàng sẽ góp phần gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng. Trái ngược lại với kết quả trên, theo nghiên cứu của Saira và ctg (2011) qui mô của ngân hàng có tác động nghịch chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng những ngân hàng có qui mô càng lớn thì ROA của ngân hàng sẽ càng thấp. Kết quả cũng đồng nhất với nghiên cứu của Bourke (1989).
Lợi nhuận của ngân hàng sẽ không được gia tăng khi tồng tài sản càng lớn, việc đa dạng hóa quy mô dịch vụ không hợp lý sẽ dẫn đến các khoản chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu mà không mang lại hiệu quả như chi phí quản lý, chi phí mở rộng mạng lưới chi nhánh, chi phí nhân viên,. Tổng kết lại, quy mô ngân hàng cần phải được xác định một cách hợp lí để có thể gia tăng lợi nhuận một cách hiệu quả. Trong một giới hạn nhất định, quy mô ngân hàng tăng sẽ khiến cho lợi nhuận của ngân hàng tăng. Khi vượt quá giới hạn này, việc gia tăng quy mô sẽ khiến cho chi phí tăng nhanh hơn thu nhập mà ngân hàng có thể tìm được.