chương 1: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, đóng góp của đề tài nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Tác giả đã khái quát được phần nào nội dung mà đề tài nghiên cứu đang hướng đến. Đây là cơ sở, nền móng cho những chương được trình bày tiếp theo về các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam khi xem xét đến vai trò điều tiết của đa dạng hóa thu nhập. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Khả năng sinh lời của ngân hàng 2. Khái niệm Ở khía cạnh doanh nghiệp, Menicucci & Paolucci (2016) định nghĩa thuật ngữ “khả năng sinh lời” đề cập đến khả năng doanh nghiệp duy trì được lợi nhuận hàng năm. Ngoài ra, lợi nhuận này là phần doanh thu còn lại khi đã loại bỏ các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
Theo Lartey và ctg (2013) chỉ ra rằng: “Khả năng sinh lời của ngân hàng là khả năng ngân hàng tạo ra doanh thu vượt quá chi phí so với cơ sở vốn của ngân hàng”. Hơn nữa, theo Rose (2010) định nghĩa rằng: “Khả năng sinh lời của ngân hàng là lợi nhuận sau thuế hay thu nhập ròng của ngân hàng”. Theo García-Herrero và ctg (2009) phát biểu rằng: “Khả năng sinh lời là một phản ánh về cách ngân hàng được quản lý dựa trên môi trường mà ngân hàng hoạt động. Thực tế, khả năng sinh lời của ngân hàng phản ánh chất lượng của quản lý và hành vi của cổ đông cũng như chiến lược cạnh tranh, hiệu suất và khả năng quản lý rủi ro của họ”.
Bên cạnh đó, theo Al-Abedallat (2017) cũng có quan điểm tương tự rằng: “Khả năng sinh lời là bằng chứng về hiệu quả quản lý của ngân hàng về khả năng thu hút tiền và vốn đầu tư từ các khía cạnh đầu từ khác nhau”. Vì vậy, khả năng sinh lời còn phụ thuộc vào những chính sách quản lý, chiến lược phát triển mà ban quản trị ngân hàng đề ra. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thường được đo lường thông qua lợi nhuận trên các nguồn lực tài chính tạo ra lợi nhuận như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu,…gọi là các chỉ tiêu tài chính. Chỉ tiêu tài chính thường được dùng để đo lường khả năng sinh lời gồm có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản - ROA (Return on assets) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE (Return on Equity).
7 Từ những khái niệm khác nhau về KNSL, có thể đúc kết được về định nghĩa KNSL là thước đo hiệu quả tài chính từ tình hình quản lý tài sản và nguồn vốn ngân hàng để tối đa hóa lợi nhuận. Trong bài nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên TTS – ROA để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời Có nhiều phương pháp dùng để đo lường KNSL của các NHTMCP. Theo Petria và ctg (2015) thì hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đo lường KNSL của NHTMCP là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trước như Ramadan và ctg (2011), Nwaolisa và ctg (2014), Al-Abedallat (2017), Heffernan & Fu (2008). • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Theo Ramadan và ctg (2011), tỷ suất sinh lời trên TTS (ROA) được định nghĩa là lợi nhuận sau thuế của ngân hàng trên tổng tài sản, ROA đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản của ngân hàng. Ngoài ra, ROA còn cho thấy hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức. ROA cao thường được coi là một chỉ số tích cực và phản ánh sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Theo Wen (2010), cho rằng ROA cao hơn cho thấy ngân hàng tận dụng các nguồn lực hiệu quả hơn. Và ngược lại ROA thấp cho thấy việc ngân hàng sử dụng tài sản chưa hợp lý hoặc các khoản chi phí vận hành lớn. 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 • Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được định nghĩa là lợi nhuận sau thuế của ngân hàng trên vốn chủ sở hữu, chỉ tiêu ROE phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ vốn góp của chủ sở hữu của ngân hàng. Chỉ tiêu ROE thường được các nhà đầu tư quan tâm vì nó cho thấy rằng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận của ngân hàng dựa trên 1 đồng vốn góp của chủ sở hữu và các cổ đông của ngân hàng.
ROE 8 cao thể hiện được hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn và tạo ra doanh thu cho cổ đông. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời ngân hàng Có nhiều nghiên cứu chia các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL thành hai nhóm chính: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài (Petria và ctg, 2015), (Gul và ctg, 2011). Các nhân tố bên trong là những nhân tố chủ yếu bị ảnh hưởng bởi quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của một ngân hàng. Những nhân tố này có tầm quan trọng trong việc hình thành lợi nhuận của một ngân hàng như tính thanh khoản, dự phòng rủi ro, chi phí hoạt động và quy mô của ngân hàng,.
Mặt khác, các nhân tố bên ngoài không nằm trong phạm vi kiểm soát của ngân hàng và thường là các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng GDP,…Đối với bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng 2 nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của các ngân hàng thương mại cổ phần. Nhóm các nhân tố bên trong Vốn ngân hàng (CAP): là một chỉ tiêu quan trọng, được đo lường bằng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn tự có của ngân hàng, hình thành từ quá trình huy động vốn từ các cổ đông và lợi nhuận giữ lại từ hoạt động kinh doanh, bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro và đảm bảo tính ổn định của ngân hàng. Ảnh hưởng của vốn ngân hàng đến KNSL được phát hiện trong nhiều bài nghiên cứu trước đây theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Theo Pasiouras & Kosmidou (2007) cho rằng: “Các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản cao hơn thường sẽ có nhu cầu tài trợ bên ngoài thấp hơn và do đó khả năng sinh lời cao hơn”. Tuy nhiên, theo Goddard và ctg (2004) lập luận rằng vốn cao dẫn đến lợi nhuận thấp vì các ngân hàng có vốn hóa cao không thích rủi ro, họ bỏ qua các cơ hội đầu tư tiềm ẩn rủi ro và cũng như kết quả là, các nhà đầu tư yêu cầu lợi nhuận trên vốn của họ thấp hơn để đổi lấy rủi ro thấp hơn. 9 Tăng trưởng quy mô tổng tài sản (GROWTH): là biến một biến quan trọng đại diện cho tốc độ tăng trưởng của quy mô tài sản của ngân hàng. Theo Stiroh (2004), các nhà quản trị ngân hàng thường thể hiện ưa thích rủi ro thông qua mức độ tăng trưởng nhanh của quy mô tài sản.
Trên thực tế, các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng quy mô cao thường tự tin hơn trong việc thực hiện các chiến lược đầu tư, mở rộng quy mô, đa dạng các sản phẩm tài chính. Đồng thời, việc mức độ tăng trưởng cao dẫn đến khả năng chịu đựng và tạo nên hành vi chấp nhận rủi ro có thể cao hơn, từ đó có thể mang lại lợi nhuận cao hơn đối với ngân hàng. Bên cạnh đó, theo Sanya & Wolfe (2010) cho rằng các ngân hàng theo đuổi chiến lược tăng trưởng nhanh có nhiều khả năng thực hiện các chiến lược đa dạng hóa không cần thiết hoặc đưa ra các quyết định đầu tư thiển cận, gây bất lợi cho sự phát triển lâu dài và hoạt động hiệu quả của ngân hàng. Quy mô của ngân hàng (SIZE): là nhân tố thường được sử dụng phổ biến để phản ánh mức độ ảnh hưởng đến KNSL.
Một số nghiên cứu nhận định rằng quy mô ngân hàng có quan hệ cùng chiều với KNSL. Những có doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn luôn có xu hướng thể hiện tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn (Gupta, 1969). Do đó, những ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có mức độ cung ứng các khoản vay, mở rộng quy mô hay thực hiện các chính sách đa dạng các sản phẩm tài chính cao hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ. Theo García-Herrero và ctg (2009) cho rằng việc quy mô lớn cũng có thể hàm ý rằng ngân hàng khó quản lý hơn hoặc có thể là hệ quả của chiến lược tăng trưởng mạnh mẽ của ngân hàng.
Hàm ý rằng việc ngân hàng nắm giữ quá nhiều tài sản nhờ vào các chính sách huy động hiệu quả tuy nhiên điều đó cũng làm cho hoạt động quản lý, đầu tư trở nên kém hiệu quả, đòi hỏi nhà quản trị ngân hàng phải phân bổ tài sản hợp lý, từ đó ảnh hưởng xấu đến KNSL. Chi phí hoạt động (COST): là chỉ tiêu được đo lường bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập của ngân hàng. Chi phí hoạt động là các loại chi phí mà ngân hàng phải chi trả để duy trì và thực hiện các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như chi phí nhân sự, chi phí vốn, chi phí quản lý,…Có thể nhận thấy rằng, có mối quan 10 hệ nghịch biến giữa chi phí hoạt động và lợi nhuận, chi phí hoạt động càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng sẽ càng giảm và ngược lại. Việc quản lý tốt và hiệu quả các chi phí giúp ngân hàng sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, cắt giảm các chi phí không cần thiết và do đó làm tăng lợi nhuận (Athanasoglou và ctg, 2006).
Cho vay khách hàng (LAR): được đo lường bằng tỷ lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản ngân hàng. Đối với NHTMCP, hoạt động cho vay đóng góp chủ yếu vào nguồn doanh thu. Một cách trực quan, việc phát triển mạnh mẽ hoạt động cho vay khách hàng càng cao cho thấy được hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng tốt.