Chương 1 bày tỏ vai trò quan trọng của ngành ngân hàng và nhấn mạnh tính cấp thiết của những thách thức mà ngành này đang phải đối diện, đặc biệt là các rủi ro tín dụng từ những ảnh hưởng đối với 20 NHTMCP tại Việt Nam. Nó xác định mục tiêu nghiên cứu, đưa ra các câu hỏi, xác định đối tượng và phạm vi của nghiên cứu, cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng để phân tích và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD. Chương cũng làm rõ ý nghĩa của mặt khoa học và thực tiễn của đề tài, cũng như xây dựng cấu trúc của luận văn. Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, chương 2 sẽ trình bày các nền tảng lý thuyết và đánh giá các nghiên trước liên quan đến đề tài, nhằm hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTMCP tại Việt Nam.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 trình bày những lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu và khảo lược các nghiên cứu trước phạm vi trong và ngoài nước, và các nhân tố liên quan đến rủi ro tín dụng để có thể đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với bài nghiên cứu này. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Tổng quan về rủi ro tín dụng 2. Khái niệm Trong bộ Nguyên tắc quản trị RRTD uỷ ban Basel nhắc tới RRTD được ban hành tháng 9/2000, RRTD được định nghĩa một cách dễ hiểu rằng “ khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo điều khoản đã thoả thuận”.
Theo khái niệm này thì RRTD không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, mà còn mở rộng ra các hoạt động khác như đầu tư và giao dịch phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Anthony Saunders (2015) đã xem RRTD “là một khoản lỗ tiềm năng mà Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình. Điều này có nghĩa, luồng thu nhập mà Ngân hàng dự tính sẽ nhận từ những khoản vay này sẽ không đạt được cả về số lượng hay thời hạn. Fitch (1997): “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” Tại Việt Nam, RRTD được cho là khả năng mà tổ chức tín dụng không thể thu hồi đúng hạn và đầy đủ các khoản tín dụng đã cung cấp (Trần Vũ Hải, 2008). Ngoài ra, Nguyễn Thị Kim Nhung và cộng sự (2017) đã giải thích rằng RRTD là loại rủi ro xuất 8 hiện khi khách hàng đi vay không tực hiện đúng cam kết trên hợp đồng tín dụng, nguyên nhân do khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hay không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay. Do đó, gây ra những tổn thất về tài chính cũng như khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP. Những tác động mạnh mẽ mà RRTD để lại cho hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Theo Besis (2002) có khả năng được đánh giá RRTD là “rủi ro quan trọng nhất của các ngân hàng, nó xảy ra khi khách hàng vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết”. Vậy nên, RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng ngân hàng, biểu hiện trên thực tế người vay không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản đã được quy định trong hợp đồng tín dụng gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đo lường rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ tín dụng x 100% Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh mức độ nợ mà khách hàng đã không thực hiện thanh toán đúng hạn theo các điều khoản trong hợp đồng với ngân hàng hoặc tổ chức tài chính. Khi tỷ lệ này tăng cao, điều này có thể cho thấy một số rủi ro liên quan đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, bao gồm khả năng mất mát tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tài chính và uy tín của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ quá hạn bao gồm các khoản nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay, tỷ lệ nợ quá hạn của những ngân hàng không được vượt quá 3%. Hệ số tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập/Tổng dư nợ tín dụng x100% 9 Hệ số này phản ánh tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có của ngân hàng. Các khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì sẽ đem lại lợi nhuận càng lớn, nhưng đồng thời cũng đem lại rủi ro càng cao.
Tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ tín dụng x 100% Tỷ lệ nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đo lường RRTD của NHTMCP. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn. Nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng rất lớn do nợ xấu là những loại nợ đã quá hạn trong một thời gian dài, ngân hàng có thể bị mất vốn và suy giảm lợi nhuận. Cụ thể Hiện nay, các Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam đang áp dụng Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư số 11/2021/TT-NHNN để phân loại nợ đối với khách hàng vay.
Các văn bản này đã thay thế cho Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 09/2014/TT-NHNN. Căn cứ theo điều 10 thông tư số 11/2021/TT-NHNN. Nợ xấu của ngân hàng bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. “Nợ nhóm 3 ( nợ dưới tiêu chuẩn ) là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày” Nợ xấu đóng vai trò chủ chốt trong việc đánh giá chất lượng tín dụng của danh mục cho vay.
Việc theo dõi tỷ lệ NPL là rất quan trọng để đánh giá mức độ RRTD của ngân hàng và áp dụng các biện pháp để giảm thiểu rủi ro này. Vì vậy trong mô hình nghiên cứu sử dụng biến Nợ xấu làm biến phụ thuộc. Các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD 2. Dự phòng RRTD Đỗ Thị Thu Hà (2013) đã đo lường RRTD bằng việc tiếp cận các tiêu chí bao gồm hệ số nợ quá hạn, hệ số nợ xấu hay rủi ro mất vốn,… Qua đó, dự phòng RRTD được cho là chỉ tiêu trực tiếp gây ra RRTD.
Tương tự, Ongore & Kusa (2013) và Phạm Hồng Thái (2017) cũng cho rằng thông qua tỷ lệ dự phòng RRTD thì các nhà quản trị có thể đo lường và đánh giá RRTD từ các NHCP. Nếu nợ xấu gia tăng thì RRTD xảy ra càng cao, bởi nếu người đi vay không trả được khoản nợ của mình thì Ngân hàng sẽ mất vốn dẫn đến suy giảm doanh thu và lợi nhuận. Và theo Petersson & Wadman (2004), họ cho rằng các khoản vay không hoàn trả được Mohn Isa và cộng sự (2015). Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được đo bằng phần trăm tăng trưởng của tổng số tiền tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định so với khoảng thời gian trước đó.
Theo Luc Laeven và Giovanni Majnoni (2002), tỷ lệ (%) tăng của lượng tiền cho vay đối với cấ nhân, tổ chức trong năm nay so với năm trước. Tăng trưởng tín dụng thể hiện quy mô vốn cung ứng cho nền kinh tế. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn và RRTD có liên quan đến tốc độ tăng trưởng tín dụng. Khả năng sinh lời Khả năng sinh lời thể hiện hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng, chỉ số này tăng cao cho thấy hiệu quả trong hoạt động ngân hàng, quản trị rủi ro và chất lượng tín dụng tốt hơn dẫn đến có thể làm giảm tỉ lệ RRTD.
Theo Hasna Chaibi và Zied Ftiti (2015) đã phát hiện mối quan hệ tương phản giữa khả năng sinh lời và RRTD tại những ngân hàng ở Đức và Pháp. Bên cạnh đó, Lousis và cộng sự (2002) cũng nghiên cứu 9 ngân hàng thương mại tại Hy Lạp. Quy mô ngân hàng Quy mô của một ngân hàng thường được xác định bằng giá trị thị trường của nó. Trong các nghiên cứu, để đảm bảo rằng biến này có thể được so sánh một cách công bằng với các biến khác trong mô hình, thường sẽ sử dụng logarit của tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
Điều này giúp điều chỉnh quy mô của ngân hàng sao cho phù hợp với các biến khác mà không làm thay đổi nội dung của mô hình. Quy mô ngân hàng có thể ảnh hưởng đến RRTD theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Các ngân hàng lớn có thể quản lý RRTD tốt hơn nhờ khả năng đa dạng hoá danh mục cho vay và cả khả năng quản trị RRTD vượt trội hơn hẳn so với các ngân hàng nhỏ. Tốc độ tăng trưởng GDP Theo Floros và Tan (2013), tổng sản phẩm quốc dân là tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia tính bằng đô la, tổng lượng tiền được sử dụng trong nền kinh tế để tiêu dùng, đầu tư hoặc chi tiêu công và xuất khẩu ròng.
Chỉ số GDP là phần trăm thay đổi của GDP trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Tỷ lệ lạm phát Lạm phát tăng làm giảm giá trị thực của khoản vay và giảm các khoản nợ không thể trả nợ. Nó còn làm mất giá đồng tiền, giảm tỷ lệ lợi nhuận nói chung. Khi lạm phát tăng dẫn đến lãi suất cũng tăng do chính sách thắt chặt tiền tệ.
Doanh nghiệp và cá nhân đi vay có thể gặp khó khăn khi trả nợ. Các nghiên cứu trước 2. Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015) trong quá trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các đặc điểm ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại 32 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam từ năm 2010 – 2013, các nhà nghiên cứu đã xác định ba nhân tố cụ thể bao gồm quy mô của ngân hàng, tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập hoạt động. Qua phương pháp sử dụng số liệu bảng với 12 phương pháp hồi quy bình phương bé nhất.