Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu Chương này bao gồm các nội dung chính sau: (i) tính cấp thiết của đề tài; (ii) tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan; (iii) mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; (iv) đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (v) phương pháp nghiên cứu. 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương này bao gồm các nội dung chính như sau: (i) một số khái niệm; (ii) đo lường các yếu tố; (iii) Lý thuyết đa dạng hóa, rủi ro và lợi nhuận; (iv) các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày các nội dung chi tiết về phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp, kết quả hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương này trình bày kết luận thu được từ kết quả nghiên cứu, đưa ra các hạn chế của mô hình và kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2. Đa dạng hóa thu nhập Khái niệm đa dạng hoá thu nhập được sử dụng ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có sự điều chỉnh khác nhau.
Điển hình, ở lĩnh vực liên quan đến hộ gia đình nông thôn, Abdulai & Crolerees, 2001) định nghĩa “Đa dạng hoá thu nhập đa dạng hóa thu nhập đề cập đến việc phân bổ tài sản sản xuất giữa các hoạt động tạo thu nhập khác nhau, cả trong và ngoài nông trại”. Trong khi đó, đa dạng hóa thu nhập trong lĩnh vực NH là việc tăng tỷ trọng phí, lợi nhuận kinh doanh ròng và các khoản thu nhập ngoài lãi khác trong thu nhập hoạt động ròng của NH (Osman et al. Việc đa dạng hoá trong NH là một yếu tố quan trọng trong việc điều hành hoạt động của NH bởi vì đa dạng hoá sẽ giúp NH không chỉ giảm rủi ro mà còn cải thiện hiệu quả hoạt động (Addai et al. Các NH đã đa dạng hóa các hoạt động phi cho vay, đặc biệt là các tài sản không sinh lãi và các dịch vụ tạo thu nhập ngoài lãi, để duy trì khả năng sinh lời (Moudud-Ul-Huq et al.
Một danh mục đầu tư được đa dạng hóa là một cách thức kết hợp nhiều loại đầu tư trong danh mục này. Đa dạng hóa danh mục đầu tư bằng cách nắm giữ trên các loại tài sản và cả trong các loại tài sản. Về mặt địa lý, đa dạng hóa bằng cách đầu tư vào cả thị trường nước ngoài và trong nước. Đa dạng hóa giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro trong danh mục đầu tư nhưng điều đó cũng có thể làm giảm lợi nhuận, ít nhất là trong ngắn hạn.
Do đó, Mercieca et al., (2007) đã phân loại đa dạng hóa trong lĩnh vực NH có ba khía cạnh: (1) các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng hóa; (2) đa dạng hóa theo địa lý; (3) kết hợp đa dạng hóa theo địa lý và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh. Rủi ro NH Rủi ro là một khái niệm rộng lớn, hàm ý xác suất xảy ra tình huống xấu hơn hoặc tốt hơn so với kỳ vọng hoặc xảy ra tình huống không như mong đợi, đó là biến cố có thể không xảy ra nhưng cũng có thể xảy ra, tức là một tình huống không chắc chắn xảy ra. Vì thế, trong từng lĩnh vực khác nhau, cách định nghĩa và đo lường rủi 8 ro cũng khác nhau. Trong lĩnh vực NH, theo nghiên cứu gần đây của Fang et al., (2019) đã chia rủi ro NH thành 4 yếu tố: Rủi ro tín dụng; Rủi ro thanh khoản; Rủi ro vốn; Rủi ro mất khả năng thanh toán.
Theo Dermine, (1986) rủi ro thanh khoản được coi là chi phí làm giảm lợi nhuận. Một khoản nợ không trả được nợ làm tăng rủi ro thanh khoản do dòng tiền vào giảm và sự mất giá mà nó gây ra. Theo Coyle, (2000), rủi ro tín dụng là tổn thất do khách hàng tín dụng từ chối hoặc không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ. Theo Afriyie, (2012), rủi ro vốn là khả năng mất một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư.
Nó áp dụng cho toàn bộ các loại tài sản không được đảm bảo hoàn trả đầy đủ vốn ban đầu. Theo Alwi et al., (2021), rủi ro mất khả năng thanh toán là rủi ro khi xảy ra khi một NH không thể thực hiện các nghĩa vụ trong hoạt động của mình. Nó cũng ngụ ý rằng chi phí vốn lớn hơn lợi nhuận. NH không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn, mặc dù tài sản của nó có thể có giá trị hơn các khoản nợ.
Như vậy với định nghĩa rủi ro của các loại như trên các rủi ro phải ước đoán được xác suất xảy ra và các tổn thất được đo lường bằng sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng. Hay nói khác hơn trong lĩnh vực tài chính NH khi nói đến rủi ro là nói đến quan hệ giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng. Lợi nhuận kỳ vọng chính là lợi nhuận trung bình có trọng số là xác suất xảy ra các giá trị lợi nhuận. Một trong các thước đo để đánh giá rủi ro NH, cụ thể là rủi phá sản của NH là đo lường bằng chỉ số Z-score.
Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính của công ty có thể được biết đến là kết quả đầu ra của các hoạt động trong doanh nghiệp và cần định lượng được kết quả này (Neely et al. Yếu tố này được đánh giá là một bước ngoặt quan trọng cho sự thịnh vượng của bất kỳ tổ chức tài chính nào (Gofwan, 2022). Hitt (1988) đã nêu ra ý kiến của mình rằng “hiệu quả” luôn luôn phải đo lường được và kết quả đo lường được có 9 tác dụng phục vụ cho những bên có liên quan như nhà quản trị, cổ đông công ty , xã hội,. Cùng với đó, các nghiên cứu hiện nay chỉ ra hai cách tiếp cận khi đánh giá hiệu tài chính của các doanh nghiệp: (1) biểu thị hiệu quả của việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh; (2) chỉ biểu thị hiệu quả việc huy động vốn.
Cụ thể trong lĩnh vực NH, hiệu quả tài chính được hiểu là mức độ sinh lời, hiệu quả của việc sử dụng vốn, phản ánh lợi ích mang lại khi doanh nghiệp bỏ ra chi phí. Đo lường đa dạng hoá thu nhập Vấn đề đa dạng hóa thu nhập đã được nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều cách đo lường. Tuy nhiên, nổi bật hơn, chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) được đánh giá là một công cụ đo lường hiệu quả mức độ đa dạng hoá của các doanh nghiệp và thường xuyên được sử dụng nhất (Dincer, 2019; Hannan, 1997). Đo lường rủi ro Các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về rủi ro phá sản của NHTM thường sử dụng chỉ số Z-Score hay còn gọi là chỉ số hiệu chỉnh rủi ro làm công cụ để đo lường mức độ rủi ro phá sản NH (Lepetit & Strobel, 2015).
Theo nghiên cứu của Lepetit & Strobel (2015) thì chỉ số Z-Score được tính bởi công thức tính như sau: ROA +ETA Z-score = SDROA Z-Score: Chỉ số hiệu chỉnh rủi ro ROA: Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản ETA: Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Tử số của chỉ số Z-Score được tính dựa trên tổng số các số bình quân của lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản và vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (vì rủi ro được tính trong thời kỳ còn ROA, ETA trên báo cáo tài chính là số thời điểm nên tác giả 10 đã lấy số bình quân tại thời điểm 31/12 từng năm). Mẫu số của chỉ số Z-Score được tính dựa trên độ lệch chuẩn của lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản cho cả kỳ nghiên cứu, hay nói cách khác đó là mức độ dao động của lợi nhuận của lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản. Đối với một NHTM, tại một thời điểm tổng vốn chủ sở hữu và lợi nhuận sau thuế có được là tất cả nguồn lực của chủ sở hữu. Do vậy chỉ số Z-Score không chỉ đo lường mức độ rủi ro mà còn đo lường khả năng phá sản của NHTM.
Chỉ số Z-Score biến thiên nghịch chiều với mức độ rủi ro phá sản. Một mức cao của Z-Score gắn liền với một xác suất thất bại hay một mức rủi ro thấp. Hiệu quả tài chính Do đặc thù hoạt động của các doanh nghiệp khác nhau, hiệu quả tài chính cũng có những cách đo lường khác nhau. Christensen et al.
Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu. Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là thu nhập thuần trên một đồng vốn cổ phần (Samad & Hassan, 2000) hay nói cách khác ROE cho biết một đồng vốn của chủ sở hữu thì NH tạo ra cho mình mấy đồng lợi nhuận, chỉ tiêu ROE này đã tính đến tác động của đòn bẩy tài chính và thuế thu nhập doanh nghiệp. Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ số để đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của NHTM trong việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu, đồng thời tỷ lệ này cũng giúp cho nhà đầu tư nhận biết giá thị trường của cổ phiếu NHTM đang trong tình trạng như thế nào (thấp, cao, hay đúng giá). Nói chung, ROE là chỉ số quan trọng đo lường khả năng sinh lời của một NH.
ROE cho biết cổ đông nhận được bao nhiêu lợi nhuận trên một đồng vốn bỏ ra, do vậy các cổ đông rất quan đến chỉ số này. Khi suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao nghĩa là đồng vốn của cổ đông được sử dụng càng hiệu quả. Tuy nhiên, suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao có thể là NH đang sử dụng đòn bẩy tài chính. Điều này chưa hẳn không tốt, miễn là NH quản lý được lãi suất cho các khoản nợ nhỏ hơn suất sinh lời trên tổng tài sản.
11 Đối với nghiên cứu này, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm hiệu quả tài chính dưới góc độ của chủ sở hữu và tương ứng với góc nhìn này là hiệu quả về tài chính của NH. Lý thuyết đa dạng hóa, rủi ro và lợi nhuận Markowitz (1952) đưa ra lý thuyết về danh mục đầu tư trung bình - phương sai.