CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÂN ĐỐI VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề cân đối vốn trong ngân hàng thương mại Đề tài về cân đối vốn trong ngân hàng thương mại là một đề tài ít người thực hiện. Do vậy việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu đối với tác giả là khá khó khăn. Các nghiên cứu chỉ đề cập đến một phần trong hoạt động cân đối vốn mà chưa có nghiên cứu nào đưa ra đầy đủ tất cả các vấn đề của hoạt động này.
Do đó tác giả phải tiếp cận vấn đề qua từng khía cạnh của cân đối vốn như huy động, sử dụng vốn, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, … trong mỗi bài nghiên cứu để tìm ra cơ sở lý luận chung về đề tài cân đối vốn trong NHTM. Các nghiên cứu trong nước Vũ Hữu Thành và các cộng sự (2016) đã phân tích mối liên quan giữa vốn ngân hàng và sự tạo thanh khoản. Từ đó tìm hiểu tác động mang tính cấu trúc giữa vốn ngân hàng và khả năng tạo thanh khoản tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Việt Nam trong thời kỳ 2009 - 2014. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng mô hình nhân quả Granger (VAR) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được điều chỉnh theo phương pháp Satorra–Bentler đối với dữ liệu bảng để trả lời các câu hỏi trên.
Qua việc ước lượng mô hình VAR kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả ngược chiều giữa vốn ngân hàng và sự tạo thanh khoản. Và tác động của vốn ngân hàng tới sự tạo thanh khoản và hiệu quả mang tính độ trễ qua kết quả tại mô hình SEM. Cụ thể như sau: Nếu ngân hàng giảm vốn chủ sở hữu ở thời điểm hiện tại sẽ làm cho sự tạo thanh khoản tăng ở thời điểm sau đó. Sự tạo thanh khoản tăng sau đó sẽ khiến hoạt động kinh doanh của ngân hàng tăng hiệu quả.
Trong trường hợp này, biến số sự tạo thanh khoản làm trung gian giảm bớt tác động tiêu cực của việc tăng vốn ngân hàng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Trần Thị Thanh Nga, Trầm Thị Xuân Hương (2018) đã sử dụng dữ liệu Bankscope và ADB trong giai đoạn 2005 – 2015 để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro 4 thanh khoản, một hệ quả của việc quản lý hoạt động cân đối vốn không tốt của ngân hàng, bao gồm: chất lượng tài sản thanh khoản, vốn ngân hàng, dự phòng rủi ro tín dụng, thu nhập lãi thuần, lạm phát và cung tiền. Nguyễn Thành Đạt (2019) đã thực hiện khảo sát 19 ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu bảng thông qua kiểm định Hausman để đánh giá ảnh hưởng của vốn ngân hàng và một số biến kiểm soát đến lợi nhuận và rủi ro tín dụng của các ngân hàng TMCP ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa vốn ngân hàng đến khả năng sinh lời và cùng chiều với rủi ro tín dụng. Ngoài ra, nghiên cứu còn đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng bao gồm các vấn đề chủ quan như tăng trưởng tín dụng (room tín dụng), quy mô ngân hàng hay các vấn đề khách quan là GDP và lạm phát. Ngoài ra nghiên cứu còn đề xuất các giải pháp để hạn chế ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu đến khả năng sinh lời và dẫn đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Nghiên cứu này đã đưa ra một số vấn đề liên quan đến hoạt động cân đối vốn như tăng trưởng tín dụng (room tín dụng), quy mô ngân hàng và kết quả của hoạt động cân đối vốn đó là rủi ro tín dụng.
Nguyễn Hoàng Long và các cộng sự (2023) đã đưa ra phân tích về khái niệm rủi ro thanh khoản theo chuẩn Basel III và các chỉ số đánh giá rủi ro thanh khoản theo Hiệp ước này. Do đặc thù của NHTM là phải nắm giữ danh mục Tài sản Nợ - Tài sản Có có kỳ hạn, dẫn đến việc có thể xảy ra mất cân đối, thậm chí mất tương xứng, vì vậy việc nghiên cứu về rủi ro thanh khoản là rất quan trọng. Rủi ro thanh khoản cũng chính là hệ quả trực tiếp của việc mất cân đối vốn đối với ngân hàng. Các nghiên cứu nước ngoài Lukasz Kugiel (2009) đã đưa ra kết quả về hiệu quả của hoạt động cân đối vốn, đó là cần phải có công cụ hỗ trợ trong quản lý vốn - hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ (FTP).
Thông qua cơ chế quản lý vốn tập trung tập trung tại hội sở, toàn bộ rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất ở các đơn vị kinh doanh được chuyển về Bộ 5 phận quản lý hoạt động cân đối vốn (phòng ALM) và sẽ không tồn tại sự bất cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nguồn vốn. Gernot Müller, Ute Merbecks (2018) xác định và đánh giá tác động của việc quản lý tài sản nợ và tài sản có đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Nepal. Mô hình kế toán chi phí thống kê (SCA) đã được áp dụng để đo lường khả năng sinh lời cũng như chức năng của bảng cân đối kế toán và các biến ngoài bảng cân đối kế toán. Mô hình SCA giả định rằng tài sản có tác động tích cực đến khả năng sinh lời và tài sản nợ tác động tiêu cực.
Bài viết sử dụng dữ liệu của 11 ngân hàng thương mại Nepal trong giai đoạn 2008 đến 2015. Dữ liệu bảng được phân tích bằng phương pháp hồi quy. Kết quả hồi quy cho thấy các biến tài sản là đầu tư, cho vay và tạm ứng có tác động tích cực và ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lời trong khi một biến tài sản khác, là tiền gửi tại các ngân hàng khác có tác động tiêu cực và ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời. Tương tự như vậy, các biến nợ phải trả, cụ thể là tiền vay các TCTD khác và tiền gửi của khách hàng có tác động đáng kể và tiêu cực đến khả năng sinh lời trong khi các khoản phải trả có tác động tích cực đến khả năng sinh lời.
Ngoài ra, một số yếu tố không liên quan đến bảng cân đối kế toán như biến lạm phát có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời, trong khi một biến số khác là số lượng chi nhánh không có ý nghĩa thống kê nhưng lại ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời. Các ngân hàng thương mại nên lập danh mục tài sản có và tài sản nợ để xem xét tác động của từng biến đến khả năng sinh lời. Đồng thời, họ phải xem xét tác động của các biến số khách quan, yếu tố tài chính vĩ mô và một số yếu tố chủ quan liên quan gián tiếp trong nội tại ngân hàng để tăng khả năng sinh lời. Nhìn chung, kết quả thực nghiệm cho thấy tài sản có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời và tài sản nợ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời.
Strahan và các cộng sự (2023) đã nghiên cứu về sức mạnh thị trường tiền gửi góp phần vào khả năng cung cấp các khoản vay có kỳ hạn dài hơn của các ngân hàng. Các ngân hàng có lượng tiền gửi dồi dào thì chi phí vốn thấp hơn. Bằng cách tăng tính ổn định của tiền gửi, rủi ro tất toán theo mùa vụ của ngân hàng sẽ giảm đi và mang lại sự linh hoạt để tạo ra các khoản vay dài hạn. Để đạt được kết quả này, 6 nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số nguyên nhân như sau: Ngân hàng tiếp cận vốn ở các thị trường ít cạnh tranh hơn; khách hàng phụ thuộc ngân hàng do đa số cần khoản vay trung dài hạn; ổn định chi phí vốn.
Khoảng trống nghiên cứu Qua việc tìm hiểu những đề tài liên quan đến nội dung nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy những nghiên cứu về hoạt động cân đối vốn tại NHTM là một đề tài rộng. Tuy các đề tài đã được tìm hiểu theo nhiều hướng của vấn đề và thực hiện nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau nhưng chỉ tiếp cận được một trong các khía cạnh của hoạt động cân đối vốn. Một số đề tài nói về yếu tố rủi ro thanh khoản, một loại rủi ro liên quan mật thiết đến hoạt động cân đối vốn. Tính thanh khoản của ngân hàng rất quan trọng để đảm bảo hoạt động của ngân hàng luôn được duy trì, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và tránh rủi ro tài chính.
Khó khăn lớn nhất của các đề tài là không đề cập trực tiếp đến hoạt động cân đối vốn, mà chỉ trình bày một số vấn đề có liên quan hoặc một bộ phận của hoạt động. Vì vậy việc tìm một đề tài bao quát toàn bộ chủ đề khó thực hiện được. Hạn chế khác của các nghiên cứu là chưa có đề tài có liên quan về hoạt động cân đối vốn tại VietABank. Vì vậy giá trị của tham khảo của các tài liệu này chưa áp dụng được nhiều cho đối tượng nghiên cứu.
Và các đề tài chưa đề cập đến khoảng thời gian xảy ra dịch bệnh, xảy ra nhiều biến chuyển trong kinh doanh của các ngân hàng. Vì vậy tác giả sẽ đưa ra một hướng nghiên cứu tổng quan hơn so với các nghiên cứu trước về hoạt động cân đối vốn của ngân hàng để áp dụng trong trường hợp cụ thể tại VietABank. Qua việc phân tích cân đối nguồn vốn và cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn theo các khía cạnh quy mô, cơ cấu, kỳ hạn và lãi suất. Dựa vào các phân tích trên, tác giả sẽ đưa ra kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và những nguyên nhân, giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động cân đối vốn tại VietABank.
Cơ sở lý luận về hoạt động cân đối vốn của ngân hàng thương mại 1. Lý thuyết về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là nhân tố quan trọng nhất trong hệ thống tài chính. Hệ thống ngân hàng phát triển góp phần phát triển ổn định và tăng trưởng kinh tế bền vững (Yeşim, 2014).
Ngân hàng thương mại là một tổ chức có điều lệ liên bang hoặc tiểu bang cho phép ngân hàng này chấp nhận các khoản tiền gửi được liên bang bảo hiểm và trả lãi cho người gửi tiền (Darryl, 2016).