Mở đầu là sự hình thành ngân hàng cổ phần ở Anh quốc (1864).600 ngân hàng cổ phần, đến năm 1875 ở Anh có 118 ngân hàng cổ phần và đến năm 1881 ở Pháp có 81 ngân hàng cổ phần.Khái niệm ngân hàng thương mại: Có nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại trên Thế giới: - Tại Pháp: Ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp thường xuyên nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng chính nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. - Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. - Ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Như vậy, ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp cũng hoạt động vì lợi nhuận nhưng hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và nó là một trung gian tài chính.
Nhờ có định chế tài chính trung gian này, các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác các nơi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cung cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần: 7 Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, có số vốn thuộc sở hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức mua cổ phần. Cổ đông của ngân hàng bao gồm cá nhân và pháp nhân, tuy nhiên các cổ đông chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vốn cổ phần là vốn dài hạn, cổ đông không có quyền đòi rút vốn cổ phần mà chỉ có quyền chuyển nhượng cổ phần cho người khác.
Việc góp vốn cổ phần trên nguyên tắc lời cùng ăn, lỗ cùng chịu theo tỷ lệ trên số vốn của cổ đông.Chức năng của ngân hàng thương mại: 1.Chức năng trung gian tài chính: Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính do đó chức năng trung gian tài chính là chức năng quan trọng nhất. Bên cạnh việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho vay thì ngân hàng còn là một tổ chức theo sự ủy thác của các nhà đầu tư đại diện họ thực hiện các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường tài chính. Chức năng trung gian tài chính có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế, giúp điều hòa nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi đến nơi thiếu hụt làm giảm thiểu tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.Chức năng trung gian thanh toán: Bên cạnh việc huy động vốn của khách hàng để thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư của mình thì ngân hàng thương mại còn thay mặt cho khách hàng trả cho người được hưởng, chuyển tiền hay nhận tiền vào tài khoản tùy theo ủy nhiệm của khách hàng.Chức năng sáng tạo bút tệ: Trên cơ sở chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại tạo ra tiền ghi sổ làm giảm tiền mặt lưu thông trong xã hội dẫn đến tiết kiệm chi 8 phí lưu thông tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển.Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách tiền tệ: Ngoài các chức năng phục vụ hoạt động kinh doanh của mình thì ngân hàng thương mại còn một chức năng quan trọng đối với nền kinh tế đó là chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế mà Chính phủ có những chính sách phù hợp, nếu như ngân hàng trung ương là tổ chức thực thi chính sách tiền tệ của Chính phủ thì ngân hàng thương mại chính là tổ chức trung gian thực hiện các chính sách tiền tệ này.Các hoạt động của ngân hàng thương mại: 1.Huy động vốn: Nhận tiền gửi là hoạt động thường xuyên của các NHTM và là hoạt động rất quan trọng đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với nền kinh tế.
Ta biết rằng, trong nền kinh tế luôn tồn tại một bộ phận tiền nhàn rỗi trong dân chúng và trong các tổ chức kinh tế – xã hội, bộ phận này nếu được huy động tập trung sẽ tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế.Hoạt động tín dụng: Đây là hoạt động sử dụng nguồn tiền mà NHTM đã huy động được trong nền kinh tế. Các NHTM thực hiện cho vay theo nhiều phương thức, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng như cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng,.Cung cấp dịch vụ thanh toán: 9 Ngân hàng thực hiện mở tài khoản giao dịch cho các khách hàng gửi tiền và thực hiện chi trả theo lệnh của khách hàng. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt như: Sự an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí…đã góp phần rút ngắn chu kỳ kinh doanh, tăng hiệu quả sử dụng vốn.Hoạt động khác: Ngoài các hoạt động chính là nhận tiền gửi và cho vay, các NHTM còn thực hiện các dịch vụ khác theo yêu cầu của khách hàng như: Quản lý ngân quỹ, bảo lãnh, đầu tư, thuê mua, các dịch vụ về chứng khoán, dịch vụ ủy thác, bán các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ cho thuê két sắt.v… Đối với mỗi NHTM CP, khả năng thực hiện các dịch vụ không giống nhau, mà tùy thuộc vào nhu cầu của đối tượng khách hàng mà NH đang phục vụ cũng như khả năng của mỗi ngân hàng. Xu hướng chung, các NHTM CP đều cố gắng mở rộng các hoạt động dịch vụ, bởi thông qua đó các NHTM CP đồng thời thực hiện được hai mục tiêu là tìm kiếm thêm thu nhập và thu hút thêm khách hàng đến với ngân hàng.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 1.Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM: * Hiệu quả: Hiệu quả của một hoạt động được hiểu là tương quan giữa lợi ích và chi phí để tiến hành hoạt động đó, có tính đến các nhân tố tác động khách quan và chủ quan.
* Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả của một quá trình kinh tế nào đó là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) để đạt được mục tiêu xác định. Nói cách khác, hiệu quả kinh tế phản ánh 10 chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bằng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. * Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả thì sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng càng cao.
Điều này giúp cho ngân hàng huy động vốn được tăng lên, từ đó ngân hàng có thể mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, đẩy mạnh cho vay, mở rộng danh mục đầu tư, nâng cao hệ thống trang thiết bị để phục vụ khách hàng tốt hơn. Những việc này tác động trở lại làm cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao, nó giúp ngân hàng ngày càng cải tiến và phát triển. Do đó, hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quan tâm hàng đầu của các ngân hàng, các ngân hàng làm mọi cách để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh là việc xem xét đồng thời nhiều chỉ tiêu yếu tố bên trong, bên ngoài kết hợp với việc phân tích ở nhiều giai đoạn khác nhau để thấy được quy luật vận động phát triển của các ngân hàng.
Đi sâu vào một số chi tiết và tìm ra biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM: 1.Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM trên phương diện khách hàng: - Khả năng đáp ứng đúng, đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng. - Sự tiện lợi trong giao dịch.Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM trên phương diện kinh tế xã hội: - Đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Hoạt động của các NHTM liên quan đến việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia - một trong các công cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô của các nước phát triển kinh tế theo hướng thị trường. Chính vì thế, hoạt động kinh doanh của các NHTM đứng trên bình diện vĩ mô thì nó có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải các quyết định của chính phủ trong hoạt động thực tiễn, qua đó góp phần quan trọng tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh - một nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng ổn định bền vững của nền kinh tế quốc dân.Hiệu quả hoạt động kinh doanh đối với các NHTM: a) Hiệu quả huy động vốn: Mục đích của việc đánh giá hiệu quả huy động vốn là để trả lời cho câu hỏi: Ngân hàng có huy động đủ số vốn cần thiết đáp ứng tốc độ tăng trưởng và cơ cấu của vốn huy động theo các tiêu chí loại tiền (VND, ngoại tệ), thời hạn (không kỳ hạn, có kỳ hạn) và chi phí rẻ.
Mỗi loại nguồn vốn huy động đều có những yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản do đó, NH cần phải quan sát, đánh giá từng loại nguồn vốn để kịp thời có những chiến lược huy động vốn tốt nhất trong từng thời kỳ nhất định. Ngoài mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong quá trình kinh doanh thì mục tiêu đảm bảo khả năng thanh khoản của NH cũng rất quan trọng. Khả năng thanh toán của NHTM là khả năng đáp ứng nhu cầu chi trả các khoản nợ, các nghiệp vụ đã cam kết khi đến hạn và khả năng giải quyết vấn đề nguồn vốn vào những thời điểm căng thẳng về vốn trong kinh doanh. Nhu cầu 12 thanh khoản của một NH bao gồm việc đáp ứng nhu cầu nghiệp vụ tức thời dạng như: rút tiền gửi hoặc yêu cầu xin vay hợp lệ của khách hàng.
Điều này lệ thuộc rất lớn vào lòng tin và việc ra quyết định gửi tiền, cho vay của khách hàng và các chủ nợ của NH.