phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: CHUONG 1: LY LUAN CHUNG VE HIEU QUA CHO VAY KHCN CUA NGAN HANG THUONG MAL. CHUONG 2: THUC TRANG HIEU QUA CHO VAY KHCN TAI 'VIETINBANK - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐÈ NÂNG CAO HIỆU QUA CHO VAY KHCN TẠI VIETINBANK - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG. LY LUAN CHUNG VE HIEU QUA CHO VAY KHCN CUA NGAN HANG THUONG MAI.
HOAT DONG CHO VAY KHCN CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng.
Theo xu hướng phát triển của nền kinh tế, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính khác nhau cung cấp các dịch vụ Ngân hàng như cho vay, uỷ thác đầu tư, nhận tiền gửi, ngược lại các Ngân hàng thương mại (NHTM) cũng đang mở rộng và đa dạng hoá các loại hình dich vụ của mình. Do đó, rất dé có sự nhầm lẫn giữa loại hình NHTM và các trung gian tài chính khác.Ở một số nước có cách định nghĩa NHTM như sau: Mỹ “NHTM là công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong địch vụ tài chính”. Ở Anh, năm 1942 “Ngân hàng bắt đầu bằng việc nhận tiền từ khách hàng theo ràng buộc đã được chỉ tỉ ết hóa theo luật Ngân hàng đảm trách việc hoàn trả khi có yêu cầu hoặc khi đến hạn”. Ở Pháp “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ.
chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Ở Thổ Nhĩ Kì “NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác”. Ở Án Độ “NHTM là cở sở nhận các khoản kí thác để cho. vay hay tài trợ đầu tư”.
Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 xác định “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Điểm phân biệt của NHTM với các trung gian tài chính khác ở chỗ NHTM là tổ chức kinh tế duy nhất được phép thực hiện nghiệp vụ thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với rất nhiều hoạt động đa dạng trong đó có ba hoạt động chính đó là: nhận tiền gửi, cho vay và hoạt động đầu tư. Nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn của Ngân hàng từ những nguồn tiền chưa được sử dụng trong nền kinh tế với cam kết hoàn trả và trả lãi đúng hạn. Tiên gửi ton tại ở các dạng: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp. Đây chính là nguồn tài chính quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân hàng.
Cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Hoạt động này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM. Cho vay bao gồm: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ cho dự án. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kì và dư nợ cuối kì.
Doanh số cho vay trong kì là tông số tiền mà Ngân hàng đã cho vay ra trong kì, dư nợ cuối kì là số tiền mà Ngân hàng hiện đang còn cho vay vào thời điểm cuối kì. Hoạt động đầu tư được thể hiện thông qua việc Ngân hàng nắm giữ các chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hoá tài sản. Có thể xếp loại theo nhiều tiêu thức như : theo tính thanh khoản, theo chủ thể phát hành, theo mục tiêu nắm giữ,. Ngân hàng nắm giữ chứng khoán và chúng mang lại thu nhập cho Ngân hàng và có thê bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết Một số hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng như: mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, cho thuê thiệt bị trung và đài hạn, bảo quản vật có giá, cung.
cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tưvấn, 1. Hoạt động cho vay của NHTM Như đã trình bày, Cho vay là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Hoạt động này đem lại cho Ngân hàng thu nhập lớn nhưng rủi ro cao nên các NHTM dé dam bao có thể duy trì và phát triển bền vững, đòi hỏi hoạt động cho vay của NHTM phải an toàn, hiệu quả. Muốn ậy, các khâu của hoạt động cho vay phải được thực hiện cách trôi chảy theo những nguyên tắc nhất định để đảm bảo cho NHTM thu hồi cả gốc và lãi khi hết thời hạn cho vay.
Theo điều 3 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tỏ chức tín dụng đối với khách hàng thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Ngân hàng nào hoạt động cũng có hình thức cho vay, Ngân hàng đồng ý đưa tiền cho khách hàng để khách hàng sử dụng tiền vào một mục đích và trong một thời gian nhất định được thỏa thuận thống nhất trong hợp đồng tín dụng Khách hàng muốn vay vốn của bất kỳ NHTM nào cũng phải thỏa mãn những điều kiện pháp luật quy định. Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Điều này giúp Ngân hàng sàng lọc được khách hàng tốt cho mình và Ngân hàng sẽ được pháp luật bảo vệ lợi ích khi khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng.
Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng phải phù hợp với pháp luật. Nghĩa là khách hàng không được sử dụng vốn vay đề kinh doanh hoặc mua những hàng hóa mà pháp luật cấm, để đảo nợ,. Khách hàng phải có dự án/phương án sản xuất kinh doanh, tiêu dùng có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này giúp Ngân hàng kiểm soát nguồn vốn cho vay hiệu quả tránh việc sử dụng nguồn vốn vay sai với mục đích vay.
Khách hàng phải có năng lực tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Ngoài ra, khách hàng phải thực hiện biện pháp dam bảo tiền vay như: Cam cố, thế chấp, bảo lãnh,. theo quy định của pháp luật. Phân loại cho vay Cho vay là hoạt động chính và thường xuyên của Ngân hàng mang lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Trong hoạt động này Ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, sau một thời gian nhất định khách hàng phải hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi. Hoạt động cho vay chia làm nhiều loại: ~ Theo thời gian cho vay gồm: Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Cho vay ngắn hạn là khoản vay có thời gian dưới 12 tháng. Cho vay trung hạn là khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng Cho vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng.
~_ Theo mục đích cho vay: Cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, vay khác. ~_ Theo phương thức cho vay: + Cho vay từng lần: Là khoản vay mà mỗi lần đi vay khách hàng và Ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết cho một khoản vay (Thẩm định, thiết lập hồ sơ vay vốn, xét duyệt cho vay,. Đây là hình thức phô biến mà khách hàng vay vốn sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, tiêu dùng và dành cho đối tượng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Việc cho vay từng lần sẽ giúp cho Ngân hàng giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ hơn và đồng thời khách hàng cũng không phải ràng buộc khi không có nhu cầu vay vốn.
Số tiền vay của khách hàng được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ, nguồn vốn của Ngân hàng, giới hạn cho vay theo luật định. Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ gốc xác định phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn thu trong thời hạn vay. Trong mỗi hợp đồng tín dụng khách hàng có thê rút vốn vay làm nhiều lần tùy theo tiến độ và nhu cầu vốn vay thực tế. Khi rút vốn vay, khách hàng phải lập bảng kê thực tế và được Ngân hang chấp thuận.
Ngân hàng có thể chấp nhận một phần hoặc toàn bộ và số tiền giải ngân sẽ được tính vào. tổng dư nợ của các lần rút vốn trước, doanh số nhận nợ không được vượt quá số tiền ghi trong hợp đồng tín dụng. Việc trả nợ phải được thực hiện theo đúng hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận nghĩa là khách hàng phải trả nợ hết khi đến hạn (dù khoản vay có được nhận nợ làm nhiều lần). + Cho vay theo hạn mức: Là phương pháp mà Ngân hàng xác định một hạn mức tín dụng cho khách hàng duy trì trong một thời gian nhất định.
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ mà Ngân hàng cho vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định không tính tới doanh số cho vay cũng như số lần giải ngân. Ngân hàng và khách hàng sẽ căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản đảm bảo, khả năng nguồn vốn của Ngân hàng để tính toán và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.