Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu ➢ Chương 2: Cơ sở lý luận ➢ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu ➢ Chương 4: Dữ liệu và kết quả nghiên cứu ➢ Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trang 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam 2.1 Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Khả năng sinh lời (Profitability) được hình thành từ hai khái nhiệm, cụ thể là “khả năng” và “ lợi nhuận”. Với “khả năng” tức là tiềm lực bên trong để kiếm được lợi nhuận nhưng chưa biểu hiện ra nhưng khi gặp điều kiện thích hợp thì “khả năng” này sẽ phát huy. Vấn đề về lợi nhuận là kết quả cuối cùng về hiệu quả hoạt động kinh doanh và đây cũng là yếu tố dự báo trung tâm của các cuộc khủng hoảng tài chính (Demirgüç-Kunt và Huizinga, 2000). Khi diễn giải lợi nhuận luôn cần phải kết hợp, liên quan đến các yếu tố khác như quản lý rủi ro, khả năng thanh khoản, cơ cấu tài sản,… Các ngân hàng thường xem xét lợi nhuận sau một kỳ hoạt động trong mối tương quan với tài sản, nguồn vốn, khả năng bù đắp các chi phí cho những thất thuất có thể xảy ra từ đó mới đo lường được khả năng sinh lời.
Mô tả khả năng sinh lời là sự thay đổi giữa chi phí và doanh thu trong một khoảng thời gian cố định, thời gian cố định thông thường sẽ kéo dài một năm tài chính theo (Heibati F, Seid Noorani M, DadKhah S, 2009). Đây là điều cần thiết của các ngân hàng để tạo ra số thu nhập đủ để đáp ứng trong việc tăng trưởng và mở rộng. Trong ngân hàng việc lập kế hoạch quản lý để tạo ra được lợi nhuận và tối đa hoá khả năng sinh lợi trong môi trường kinh tế đầy thách thức là một điều cực kỳ quan trọng. Hay theo Harward và Upto “Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư để kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng nó”.
Khả năng sinh lời là khả năng của một ngân hàng tạo ra thu nhập từ việc sử dụng các nguồn lực sẵn có và đây được xem là một chỉ số quan trọng vì khi nhìn vào chỉ số này có thể đánh giá hiệu quả quản lý của ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On Asset – ROA) là chỉ số tài chính dùng để đo lường mối quan hệ của lợi nhuận ròng trên tổng tài sản của ngân hàng trong việc tạo ra được lợi nhuận từ chính cơ sở tài sản của mình. Đây là chỉ Trang 5 tiêu đánh giá hiệu quả trong việc quản lý sử dụng tài sản để tạp ra lợi nhuận. Khi tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng càng làm ăn có lãi, theo Golin (2001) đã chỉ ra rằng, ROA là chỉ số sinh lời được sử dụng rộng rãi nhất. Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận ròng trên tổng tài sản được tính bằng công thức: Lợi nhuận ròng ROA = Tổng tài sản Về mặt ý nghĩa: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết cứ một đồng tài sản mà doanh nghiệp tạo ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận được mang lại và chỉ số này cho biết thông tin về khoản lãi được tạo ra từ chính tài sản của doanh nghiệp.
Chỉ số này càng cao thì doanh nghiệp này càng kiếm được nhiều lợi nhuận.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity – ROE) là chỉ số tài chính dùng để đo lường mối quan hệ của lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Do đó, thông qua việc nó thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận từ đóng góp của các cổ đông. Khi tỷ lệ này càng cao, ngân hàng phải quản lý tốt để tạo ra lợi nhuận, vì vậy ROE được xem là một chỉ báo tốt về KNSL. Tuy nhiên có những ý kiến trái chiều ví dụ như theo Dietrich và Wanzenried (2011) lại cho rằng ROE có nhưng yếu điểm về KNSL khiến nó kém hấp dẫn hơn so với ROA.
Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu được tính bằng công thức: Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu Về mặt ý nghĩa: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết cứ một đồng chủ sở hữu mà doanh nghiệp tạo ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên hay còn gọi là lợi suất ròng trên tài sản sinh lãi (Net Interest Margin) là thước đo mức độ chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản Trang 6 sản sinh lời và tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp. Trong việc quản lý của một ngân hàng thì tỷ lệ này được xem là khá quan trọng vì họ cho vay với một tỷ lệ và trả cho người gửi tiền với một tỷ lệ khác. Khi tỷ lệ này âm tức là ban giám đốc của công ty đã đưa ra quyết định thiếu thận trọng vì lãi phải trả lớn hơn lãi nhận được từ các khoản lãi đầu tư đã thực hiện.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được tính bằng công thức: Thu nhập lãi ròng Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên = Tổng tài sản Về mặt ý nghĩa: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên dự báo và cho thấy được khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Từ đó có thể kiểm soát và điều chỉnh các loại tài sản có khả năng sinh lời, tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp đồng thời có những chính sách tăng hoặc giảm lãi suất một cách hợp lý.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam 2.1 Các yếu tố nội tại ngân hàng • Quy mô ngân hàng (Bank Size) Theo (Andrea Dietrich, 2011), trong hầu hết các lý thuyết về tài chính thì quy mô của ngân hàng được xem là đại lượng để đo lường tài sản của ngân hàng. Ngân hàng đạt được KNSL cao hơn khi quy mô tài sản tăng lên do đó khi có lợi thế về quy mô (đa dạng hoá trong sản phẩm, hoạt động kinh doanh, cho vay của ngân hàng lớn giúp ngân hàng có thể giảm thiểu được rủi ro trong hoạt động và dễ dàng huy động khách hàng gửi tiền) đây được gọi là quy mô kinh tế. Vì không có hiệu quả trong quản trị nguồn nhân lực sẽ dẫn đến việc vượt ra khỏi quy mô kinh tế từ đó ảnh hưởng bất lợi cho KNSL của ngân hàng dẫn đến làm cho bộ máy trở nên yếu kém vậy nên sẽ phát sinh thêm nhiều chi phí tốn kém về quản trị.
• Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ giữa vốn tự có trên tài sản có trọng số rủi ro của ngân hàng và đây là một trong những tỷ lệ cơ bản thể hiện sức mạnh vốn. Theo Antwi và Apau (2015), hệ số này cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc bù đắp các khoản lỗ và xử lý các rủi ro đối với các chủ vốn chủ sở hữu. Ngân hàng Trang 7 có tỷ số này càng cao thì nhu cầu về tài trợ vốn bên ngoài càng giảm từ đó KNSL của ngân hàng được nâng cao (Kosmidou và cộng sự, 2008). • Tiền gửi (Deposit) Ở ngân hàng nguồn tiền tài trợ chính bắt nguồn từ các khoản tiền gửi và đây là nguồn có chi phí thấp nhất, khi càng có nhiều tiền gửi được chuyển thành tiền vay thì tỷ suất lãi và lợi nhuận sẽ càng tăng cao.
Vì vậy tiền gửi ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng. Trong bài nghiên cứu của Andreas Dietrich (2011) đã sử dụng tốc độ tiền gửi hằng năm để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng. Việc mở rộng hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào tốc độ gia tăng của ngân hàng từ đó giúp ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Ngân hàng muốn sinh lợi thì ngân hàng cần chuyển đổi các khoản tiền gửi này thành tài sản có khả năng sinh lời như đem cho vay hay đầu tư tài chính tuy nhiên cần phải quản trị tốt nếu không sẽ làm giảm chất lượng tín dụng, không có khả năng đáp ứng nguồn tiền khi khách hàng yêu cầu rút một khoản tiền mặt tức thì từ đó sẽ giảm uy tín của ngân hàng.
Từ đó giảm lượng khách hàng gửi tiền, thu hút nhiều đối thử cạnh tranh đồng thời giảm lợi nhuận của các ngân hàng đang tham gia trên thị trường. • Thanh khoản (Liquidity) Khả năng thanh khoản được xem là một thước đo tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của khách hàng. Ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu cho khách hàng rút tiền mặt hay các nhu cầu vay mới mà không phải thu hồi các khoản đầu tư hay các khoản vay trong hạn một cách kịp thời điều này cho thấy tính thanh khoản của ngân hàng cao. Khi tỷ lệ phần trăm này càng cao thì ngân hàng càng có tính thanh khoản cao.
Thanh khoản không đủ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của ngân hàng, tức ngân hàng không có khả năng cân đối hợp lý giữa tiền gửi và tiền cho vay. Mặc khác, việc nắm giữ các tài sản lưu động có chi phí cơ hội mang lại lợi nhuận cao hơn. Theo Kosmidou (2008) một nhà quản lý đưa ra quyết định quan trọng là luôn quan tâm đến tính thanh khoản cụ thể là đo lường trong mối liên quan của quá trình cho vay và gửi. Năm 1989, Bourke đã tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa tích cực giữa tính thanh khoản của ngân hàng và khả Trang 8 năng sinh lời.
Trong thời điểm bất ổn, các ngân hàng có thể chọn cách tăng lượng tiền mặt nắm giữ để giảm thiểu rủi ro. • Thu nhập lãi (Net Interest Income) Có nhiều thước đo để đánh giá hiệu quả hoat động của ngân hàng và một trong số đó là thu nhập lãi. Thu nhập lãi bao gồm thu từ lãi cho vay khách hàng, lãi từ tiền gửi, lãi từ vốn đầu tư chứng khoán nợ hay lãi từ các hoạt động tín dụng khác. Trong nghiên cứu của (Alper và Anbar, 2011) có đề cập đến thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản của ngân hàng có tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại.