Tổng quan nghiên cứu
Trong cơ cấu hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam, thu nhập từ lãi thuần từng chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 85,56% vào năm 2015. Sự phụ thuộc quá mức vào hoạt động cấp tín dụng truyền thống khiến các tổ chức tín dụng phải đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng và biên lãi ròng bị thu hẹp. Nhằm giảm thiểu các rủi ro mang tính chu kỳ và tìm kiếm động lực tăng trưởng bền vững, việc đa dạng hóa danh mục doanh thu thông qua phát triển các nguồn thu nhập ngoài lãi đã trở thành định hướng chiến lược mang tính cấp thiết.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng của tác giả Đoàn Quang Trung, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phạm Thị Tuyết Trinh tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tập trung giải quyết bài toán: Đo lường mức độ tác động của từng cấu phần thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa các nhóm ngân hàng có cơ cấu sở hữu vốn khác nhau.
Phạm vi nghiên cứu bao quát bộ dữ liệu của 29 ngân hàng thương mại tiêu biểu tại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2018 với 195 quan sát. Đây là giai đoạn mang tính bản lề khi toàn hệ thống tổ chức tín dụng triển khai quyết liệt Đề án tái cơ cấu theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc giúp các nhà quản trị ngân hàng nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (đạt giá trị trung bình 8,70%) và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (đạt mức bình quân 0,78%), từ đó tối ưu hóa chiến lược dịch chuyển cơ cấu kinh doanh trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại và lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô và phạm vi do Klein và Saidenberg (1997) cùng Kevin Rogers (1998) phát triển. Các lý thuyết này chỉ ra rằng việc kết hợp cung ứng các dịch vụ phi truyền thống cùng với hoạt động tín dụng sẽ giúp định chế tài chính tối ưu hóa chi phí cố định, khai thác tối đa hạ tầng mạng lưới chi nhánh và giảm thiểu mức độ biến động của tổng lợi nhuận.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết về cơ cấu sở hữu vốn và hiệu quả hoạt động ngân hàng từ các công trình của Flamini và cộng sự (2009) cùng Barth và cộng sự (2004). Lý thuyết này khẳng định các nhóm ngân hàng có hình thức sở hữu khác biệt (ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân và ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối) sẽ sở hữu lợi thế công nghệ, năng lực quản trị rủi ro và mục tiêu kinh doanh khác nhau, dẫn tới mức độ hấp thụ lợi ích từ thu nhập ngoài lãi không đồng nhất.
Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa 4 nhóm khái niệm chính:
- Hiệu quả kinh doanh ngân hàng: Được đo lường thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA, trung bình đạt 0,78%) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE, trung bình đạt 8,70%).
- Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ (ISER): Chiếm tỷ trọng trung bình 6,36% trong tổng thu nhập hoạt động, đo lường nguồn thu từ thanh toán, phát hành thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử và bảo hiểm.
- Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh và đầu tư (ITRA): Đạt mức bình quân 6,35%, phản ánh kết quả từ mua bán chứng khoán, kinh doanh ngoại hối và vàng.
- Tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động ngoài lãi khác (IOTH): Đạt trung bình 6,01%, phản ánh các khoản thu từ xử lý nợ và hoạt động phi tín dụng khác.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với bộ dữ liệu bảng không cân đối gồm 195 quan sát thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo thường niên giai đoạn 2012–2018 của 29 ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Cỡ mẫu được phân bổ mang tính đại diện cao cho toàn ngành, bao gồm 4 ngân hàng thương mại nhà nước chi phối (nắm giữ hơn 50% thị phần tài sản), 22 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân và 3 ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối. Dữ liệu kinh tế vĩ mô được trích xuất đồng bộ từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Thống kê.
Phương pháp phân tích được thực hiện bài bản trên phần mềm kinh tế lượng STATA thông qua quy trình 4 bước chặt chẽ:
- Ước lượng mô hình hồi quy gộp Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Kiểm định Hausman với giá trị Prob > chi2 = 0,0077 đối với mô hình ROA và Prob > chi2 = 0,9194 đối với mô hình ROE để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.
- Thực hiện kiểm định Wooldridge phát hiện hiện tượng tự tương quan (Prob > F = 0,0000) và kiểm định Modified Wald phát hiện phương sai sai số thay đổi (Prob > chi2 = 0,0000). Hệ số phóng đại phương sai (VIF) đều nhỏ hơn 2, chứng minh mô hình không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến.
- Để khắc phục triệt để khuyết tật tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, tác giả lựa chọn phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) với cú pháp xtgls panels(hetero) corr(ar1). Phương pháp GLS đảm bảo các ước lượng thu được đạt đầy đủ tính chất không chệch, vững và có phương sai nhỏ nhất (BLUE), mang lại độ tin cậy thống kê vượt trội so với các ước lượng thông thường.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả hồi quy mô hình cơ bản và mô hình tương tác mở rộng theo phương pháp GLS đã mang lại những phát hiện thực nghiệm mang tính cốt lõi:
Thứ nhất, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ (ISER) có tác động cùng chiều mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% đến cả hai chỉ tiêu ROE và ROA. Trong giai đoạn 2012–2018, tỷ trọng thu nhập thuần từ dịch vụ trong toàn hệ thống đã tăng trưởng ấn tượng từ mức 4,74% lên 8,62%, khẳng định dịch vụ phi tín dụng là động lực trực tiếp gia tăng hiệu quả sinh lời.
Thứ hai, tỷ lệ thu nhập từ kinh doanh - đầu tư (ITRA) và thu nhập ngoài lãi khác (IOTH) đều tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Cơ cấu tổng thu nhập hoạt động có sự chuyển dịch rõ rệt khi tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm từ 85,56% năm 2015 xuống 76,65% năm 2018, nhường chỗ cho sự mở rộng của các nguồn thu ngoài lãi với nhiều ngân hàng đạt tỷ trọng trên 30% như Techcombank, Sacombank hay HSBC Việt Nam.
Thứ ba, yếu tố sở hữu vốn tạo ra sự phân hóa sâu sắc về mức độ tác động. Kết quả hồi quy mô hình mở rộng chứng minh nhóm ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối có mức độ tác động của thu nhập kinh doanh và đầu tư (ITRA) đến hiệu quả kinh doanh mạnh hơn rõ rệt so với nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại tư nhân.
Thứ tư, các biến kiểm soát trong mô hình đóng vai trò quan trọng: Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ phải trả (DELIA bình quân 73,21%), tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản (INTA bình quân 2,77%) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân 6,24%/năm, đạt đỉnh 7,08% năm 2018) đều tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả tài chính của ngân hàng.
Thảo luận kết quả
Mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập dịch vụ và hiệu quả kinh doanh được giải thích bởi đặc tính tạo nguồn thu ổn định, không chịu áp lực trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và có chi phí biên thấp khi mạng lưới ngân hàng số đã hoàn thiện. Khi quy mô giao dịch phi tiền mặt bùng nổ, các khoản phí từ thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ và phân phối bảo hiểm đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận ròng.
Sự vượt trội của nhóm ngân hàng có vốn nước ngoài trong mảng kinh doanh và đầu tư xuất phát từ lợi thế công nghệ giao dịch hiện đại, kinh nghiệm quản trị danh mục tài sản phái sinh quốc tế và quy trình kiểm soát rủi ro thị trường chặt chẽ. Ngược lại, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và tư nhân trong nước vẫn tập trung nhiều nguồn lực vào tín dụng truyền thống, chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường vốn.
Những kết quả này hoàn toàn thống nhất với các nghiên cứu của Chiorazzo và cộng sự (2008), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016), cũng như Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), chứng minh rằng chiến lược đa dạng hóa nguồn thu giúp cải thiện tỷ suất sinh lời điều chỉnh theo rủi ro tại các thị trường tài chính mới nổi.
Để truyền tải trực quan các phân tích trên trong thực tiễn báo cáo, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn hiệu quả thông qua biểu đồ đường kép thể hiện sự đồng pha giữa tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi và chỉ số ROE (dao động từ 0,09% đến 27,73%), kết hợp với bảng nhiệt (heatmap) thể hiện ma trận tương quan giữa các nhóm sở hữu vốn và tỷ suất lợi nhuận từng phân khúc nghiệp vụ.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam:
-
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang mảng dịch vụ số và liên kết tài chính: Ban điều hành các ngân hàng thương mại cổ phần cần ưu tiên nguồn vốn phát triển hệ sinh thái ngân hàng mở (Open Banking), thanh toán không dùng tiền mặt và hoạt động bán chéo bảo hiểm (Bancassurance). Đặt mục tiêu hành động cụ thể: Nâng tỷ trọng thu nhập dịch vụ (ISER) lên mức 15% đến 20% trong tổng thu nhập hoạt động giai đoạn 2020–2025.
-
Chuẩn hóa và mở rộng năng lực kinh doanh nguồn vốn và công cụ phái sinh: Khối Nguồn vốn và Thị trường tài chính tại các ngân hàng trong nước cần chủ động học hỏi mô hình quản trị rủi ro danh mục từ các ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối, tăng cường chiều sâu cho các sản phẩm phái sinh lãi suất và tiền tệ. Mục tiêu hướng đến: Tăng tỷ suất sinh lời từ hoạt động đầu tư và kinh doanh ngoại hối (ITRA) thêm 2% đến 3% mỗi năm theo lộ trình 2–3 năm.
-
Tối ưu hóa chi phí hoạt động và củng cố tấm đệm vốn tự có: Hội đồng quản trị các ngân hàng cần tái cơ cấu quy trình vận hành nội bộ nhằm kiểm soát tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) xuống dưới mức 40%, đồng thời duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQTA) ổn định ở mức 9% đến 10%. Các ngân hàng thương mại nhà nước cần tăng cường tích lũy lợi nhuận giữ lại để tăng vốn điều lệ thay vì áp lực chia cổ tức tiền mặt lớn.
-
Hoàn thiện khung khổ pháp lý và hạ tầng công nghệ thanh toán quốc gia: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho các mô hình kinh doanh tài chính công nghệ (Fintech Sandbox), đồng thời xem xét nới trần tăng trưởng tín dụng linh hoạt cho các tổ chức tín dụng có tỷ trọng thu nhập ngoài lãi cao và đáp ứng chuẩn an toàn vốn Basel II. Mục tiêu toàn ngành: Nâng tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt đạt trên 80% trong giai đoạn 2020–2025.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:
- Ban lãnh đạo và chuyên viên quản trị chiến lược tại các ngân hàng thương mại: Khai thác hệ số hồi quy thực nghiệm của từng nguồn thu nhập để xây dựng hệ thống chỉ tiêu KPI phân bổ nguồn vốn, định hướng đầu tư hạ tầng công nghệ và tối ưu hóa danh mục sản phẩm phi tín dụng.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng): Sử dụng kết quả đánh giá tác động của Quyết định số 254/QĐ-TTg làm cơ sở hoạch định các chính sách điều hành tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng gắn liền với an toàn vĩ mô.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo quy trình phân tích kinh tế lượng hoàn chỉnh với phần mềm STATA, từ việc xử lý kiểm định chẩn đoán mô hình bảng đến áp dụng phương pháp hồi quy GLS cho cỡ mẫu 195 quan sát.
- Chuyên viên phân tích tài chính và các quỹ đầu tư: Sử dụng khung đánh giá cơ cấu thu nhập ngoài lãi để phân tích chất lượng lợi nhuận, định giá cổ phiếu ngân hàng và dự báo triển vọng tăng trưởng dài hạn của 29 ngân hàng thương mại niêm yết.
Câu hỏi thường gặp
-
Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại gồm những cấu phần cơ bản nào? Thu nhập ngoài lãi được cấu thành từ 3 bộ phận chính: Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ (thanh toán, phát hành thẻ, ngân hàng số, bảo hiểm, chiếm bình quân 6,36%); Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh và đầu tư (mua bán chứng khoán, kinh doanh vàng, ngoại hối, chiếm 6,35%); và Thu nhập thuần từ hoạt động ngoài lãi khác (thu hồi nợ đã xử lý, chiếm 6,01%).
-
Tại sao nghiên cứu phải sử dụng phương pháp GLS thay vì mô hình FEM hay REM? Mặc dù kiểm định Hausman đã lựa chọn mô hình FEM cho ROA và REM cho ROE, nhưng dữ liệu bảng 195 quan sát tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Prob > chi2 = 0,0000) và tự tương quan (Prob > F = 0,0000). Phương pháp GLS là giải pháp chuẩn mực để khắc phục triệt để các khuyết tật này, đảm bảo kết quả ước lượng đạt độ tin cậy cao nhất.
-
Yếu tố hình thức sở hữu vốn tạo ra sự khác biệt như thế nào trong hiệu quả kinh doanh? Nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối (như Shinhan Bank, HSBC) có khả năng chuyển hóa thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư (ITRA) thành hiệu quả sinh lời mạnh mẽ hơn các ngân hàng nội địa nhờ lợi thế công nghệ vượt trội và quy trình quản trị rủi ro chuẩn quốc tế.
-
Mối quan hệ giữa tỷ lệ tiền gửi khách hàng và hiệu quả kinh doanh được thể hiện ra sao? Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ phải trả (DELIA đạt trung bình 73,21%) có tác động cùng chiều mạnh mẽ đến ROE và ROA. Tiền gửi dân cư cung cấp nguồn vốn huy động ổn định với chi phí thấp hơn thị trường liên ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí vốn và gia tăng biên lợi nhuận ròng.
-
Việc tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi có đồng nghĩa với việc ngân hàng nên cắt giảm tín dụng không? Không. Hoạt động tín dụng vẫn đóng vai trò huyết mạch tạo ra 76,65% thu nhập thuần cho ngân hàng. Chiến lược tối ưu là duy trì tăng trưởng tín dụng có kiểm soát chất lượng, đồng thời tận dụng tệp khách hàng vay vốn sẵn có để bán chéo các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, tối đa hóa hiệu quả hoạt động tổng thể.
Kết luận
- Luận văn khẳng định việc mở rộng các nguồn thu nhập ngoài lãi (dịch vụ, đầu tư, kinh doanh ngoại tệ) tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến việc gia tăng tỷ suất sinh lời ROE (8,70%) và ROA (0,78%) của 29 ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2012–2018.
- Nhóm ngân hàng có vốn nước ngoài chi phối thể hiện sự vượt trội trong việc tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh từ mảng đầu tư tài chính so với khối ngân hàng nhà nước và tư nhân trong nước.
- Quy trình kinh tế lượng áp dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) đã xử lý triệt để các khuyết tật tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, tạo ra đóng góp khoa học chuẩn xác cho bộ dữ liệu 195 quan sát.
- Lộ trình 2020–2025 đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải khẩn trương hoàn thiện hạ tầng ngân hàng số, đẩy mạnh liên kết bán chéo dịch vụ và nâng cao năng lực quản trị rủi ro danh mục nguồn vốn.
- Quý độc giả, các nhà quản trị ngân hàng và chuyên viên phân tích tài chính hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng mô hình định lượng này vào thực tiễn xây dựng chiến lược kinh doanh và nâng tầm hiệu quả hoạt động ngân hàng.