CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Thuật ngữ ngân hàng - Bancabank được bắt đầu biết đến từ thời kỳ Phục hưng tại Italia có nghĩa là chỉ chiếc ghế băng nơi các nhà buôn có thể gặp gỡ để trao đổi tiền tệ.
Từ đó, “ngân hàng được dùng để gọi thay thế cho những cửa hiệu đổi tiền, chuyển tiền, cầm đồ, giữ hộ tài sản quý để thực hiện chức năng thanh toán trong trao đổi, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Sau một quá trình dài ra đời và phát triển, ngân hàng thương mại hiện nay là một trong những tổ chức trung gian tài chính ra đời sớm nhất trên thế giới với quy mô tài sản quản lý khổng lồ và phạm vi hoạt động rộng khắp các lĩnh vực, được coi là một trong những trung gian tài chính lớn nhất, dù ở quốc gia nào. Tại Pháp theo Luật Ngân hàng năm 1941, ngân hàng được hiểu là: những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Theo cách hiểu này, ngân hàng hoạt động với hai nghiệp vụ chính là nhận tiền của công chúng theo các cách thức của mình (chủ yếu là hình thức ký thác) để rồi sử dụng số tiền nhận được đó thực hiện hoạt động cung ứng tiền ra thị trường qua hoạt động chiết khấu, tín dụng hoặc cung cấp các dịch vụ tài chính của ngân hàng.
[4] Tại Đan Mạch 1930 ngân hàng là: những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiên các nghiệp vụ 7 chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm,…. Đan Mạch đã đưa chức năng của ngân hàng với phạm vi hoạt động rộng hơn, hoạt động đa dạng hơn so với Pháp. Tại đây, các ngân hàng vẫn thực hiện hai nghiệp vụ chính là nhận tiền gửi (nhận tiền ký thác) và cung ứng tiền (tín dụng, hối phiếu,. Bên cạnh đó, các ngân hàng Đan Mạch còn thực hiện hoạt động mua bán vàng bạc, địa ốc, cũng như thực hiện thanh toán và bảo hiểm cho các chủ thể trong nền kinh tế.
[4] Tại Việt Nam, ngân hàng thương mại được hiểu là: tổ chức kinh doanh tiền tệ và tín dụng, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. [14] Như vậy có thể thấy dù ở quốc gia nào, cách thể hiện ra sao thì ngân hàng thương mại nhìn chung đều là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng và tiền tệ gắn liền với nguyên tắc hoàn trả, và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Trong phạm vi nghiên cứu của đề án có thể hiểu: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại NHTM có những đặc điểm nổi bật dưới đây: Thứ nhất, “ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận của ngân hàng thương mại được thể hiện qua số chênh lệch giữa chi phí huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi và chi phí cho vay (hoặc chi phí đầu tư nguồn vốn đó). Để có thể gia tăng nguồn lợi nhuận của mình, các ngân hàng thương mại phải thực hiện đi vay để cho vay. Từ đó thể hiện hai hoạt động này là hai hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. [10] Thứ hai, ngân hàng thương mại là tổ chức được phép nhận tiền gửi gắn với trách nhiệm hoàn trả.
Hoạt động nhận tiền gửi là một trong những hoạt 8 động chính ngân hàng thương mại thực hiện trước khi tiến hành cung cấp các sản phẩm tín dụng hoặc đầu tư khác của mình. Trong quá trình huy động vốn thông qua nhận tiền gửi, ngân hàng thương mại đảm bảo hoàn trả cho khách hàng vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định theo cam kết, và hoạt động này được pháp luật bảo trợ. [10] Thứ ba, ngân hàng thương mại sử dụng tiền gửi đã huy động được tiến hành thực hiện cho vay, chiết khấu và đầu tư. Có thể nói, lượng tiền gửi ngân hàng thương mại huy động được có quy mô rất lớn, và để gia tăng lợi nhuận của mình các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện chủ yếu các hoạt động tín dụng (có thể là cho vay trực tiếp với các chủ thể cần vốn hoặc có thể là cho vay thông qua chiết khấu các giấy tờ có giá của khách hàng).
Bên cạnh hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại để giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động cũng như gia tăng thêm lợi nhuận, họ còn sử dụng một phần tiền gửi đã huy động được đó thực hiện đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng sinh lời trong tương lai (như đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, vàng,…). [10] Thứ tư, ngân hàng thương mại thực hiện các khoản thanh toán và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Nếu như nói hai hoạt động nhận tiền gửi và tín dụng là hai hoạt động sơ khai, cơ bản của các ngân hàng thương mại từ khi ra đời đến nay, thì việc cung cấp thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng là hoạt động được ra đời sau nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và các chủ thể trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại. Với sự phát triển của khoa học công nghệ, với sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh toán cả trong nước và trên quốc tế.
Với sự ra đời của các hình thức thanh toán đa dạng (thanh toán qua thẻ, thanh toán qua mạng internet,…) đã giúp khách hàng của ngân hàng dễ dàng và thuận tiện hơn trong quá trình thanh toán, đồng thời yếu tố an toàn cũng được đề cập. Vai trò của ngân hàng thương mại 9 - Vai trò trung gian tín dụng Thực hiện vai trò trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người cần vốn. Thông qua các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành lên các quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với vai trò này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.
Với vai trò trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Với vai trò này, bản chất của NHTM được phản ánh một cách rõ nét là đi vay để cho vay, đồng thời đây cũng là vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. [15] - Vai trò trung gian thanh toán NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.
Với vai trò là trung gian thanh toán, NHTM cung cấp cho khách hành nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình những phương thức thanh toán phù hợp. Từ đó thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Đồng thời, vai trò này cũng góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán, làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản của khách hàng. [13] - Vai trò tạo tiền 10 Khi có sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng, hình thành lên ngân hàng phát hành và ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn được thực hiện vai trò phát hành giấy bạc ngân hàng nữa.
Nhưng với vai trò trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong giao dịch. Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua hoạt động cho vay bằng chuyển khoản hệ thống ngân hàng có khả năng tạo lên số tiền gửi gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi.
Tuy nhiên hệ số này vẫn chịu tác động bởi cá yếu tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dữ trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng. Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại theo Báo cáo Basel 1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một diễn đàn cho sự hợp tác thường xuyên về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng. Mục tiêu của Ủy ban là hiểu rõ hơn về các vấn đề mấu chốt trong việc giám sát và nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu.
Sự hình thành, phát triển và hoạt động của Ủy ban này được tóm tắt như sau (Basel Committee, 2013): Đầu năm 1975, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã thành lập một Ủy ban về các quy định ngân hàng và thực tiễn giám sát tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Sau đó đổi tên thành Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Kể từ cuộc họp đầu tiên vào 11 tháng 02/1975, các cuộc họp tiếp theo của Ủy ban được tổ chức thường xuyên ba hoặc bốn lần trong một năm.