chương 1, Luật các Tổ chức tín dụng (47/2010/QH12) định nghĩa “hoạt động huy động vốn (cụ thể là hoạt động nhận tiền gửi) là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đây đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. "Huy động vốn là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguôn vốn của NHTM, qua việc Ngân hàng nhận ủy thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tác có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu câu vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng." (Trầm Thị Xuân Hương, 2013) Hay nói cách khác huy động vốn chính là hoạt động của NHTM sử dụng các biện pháp, cách thức của mình dé thu hút một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu chúng dé thực hiện các mục đích khác nhau đã gửi vào ngân hàng. Huy động vốn tạo tiền đề đầu vào cho các hoạt động khác của NHTM. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành, thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội nhằm thúc day nền kinh tế phát trién.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung va phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyên vốn. kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại va phát triển kinh doanh của ngân hàng. Vai trò của công tác huy động vẫn Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có vai trò đối với hệ thống NHTM mà còn tác động đến nền kinh tế xã hội của đất nước.
Cụ thé như sau: 1. Doi với nên kinh tế - Huy động vốn thông qua kênh huy động từ các NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Thông qua nghiệp vụ huy động vốn mà hệ thống Ngân hàng tập trung hầu hết các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích luỹ trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Đây là nguồn vốn rất quan trong dé dau tư phát triển nền kinh tế. Nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyên” không ngừng thông qua hệ thống luân chuyên trung gian là các NHTM.
Đặc biệt, trong chiến lược phát triển của nước ta là xây dựng nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nhưng điểm xuất phát thấp, ngân sách còn hạn hẹp, do đó vốn đầu tư cho các ngành kinh tế phải trông đợi rất nhiều vào nguồn vốn nội lực, trong đó nguồn từ các Ngân hàng huy động được là rất quan trọng vì nó tạo sự vững chắc cho sự phát triển nhanh, ồn định và bền vững lâu dài. - Giúp chính phủ và nhà nước thực hiện các công cụ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn giúp Ngân hàng Nhà nước kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông, từ đó sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, tỷ giá,.) một cách hợp lý nhằm điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát, bình 6n giá cả. Đồng thời nhà nước có thé sử dụng các biện pháp tích cực dé tìm kiếm nguồn vốn huy động cho sự phát triển của nền kinh tế từ trong và ngoài nước thông qua việc phát hành các công cụ nợ như trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc.
Đối với ngân hàng thương mại -Vốn là cơ sở để ngân hàng tô chức mọi hoạt động kinh doanh Đối với NHTM, vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được xem là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được xem là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa trên nguồn vốn này. Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM cũng như khả năng cạnh tranh với các đối thủ của NHTM. - Vốn quyết định quy mô hoạt động và quy mô tín dụng của ngân hàng Nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn đôi dào với chi phí thấp có thé mở rộng tín dụng đầu tư với quy mô lớn và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh.
Nếu một NHTM có khả năng vốn lớn thì NHTM đó có thể hoạt động tín dụng không giới hạn trong phạm vi địa bàn của tỉnh mà có thể mở rộng ra trong cả nước và thậm chí trên toàn thé giới. - Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường Khách hàng chỉ yên tâm sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của một ngân hàng, nếu họ tin tưởng vào ngân hàng đó. Uy tín ngân hàng là một tài sản vô hình và không thể lượng hoá được. Một NHTM có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến gửi tiền và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đó khi ngân hàng đó có uy tín trên thị trường.
Uy tin của ngân hàng trước hết thé hiện ở khả năng sẵn sàng thanh 10 toán khi khách hàng yêu cầu. Khả năng thanh toán của ngân hàng thông thường tỉ lệ thuận với khối lượng vốn mà ngân hàng đó có. Nếu có nguồn vốn lớn năng lực thanh toán của ngân hàng được nâng cao, do đó uy tín của ngân hàng được nâng cao. Từ đó, ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng và nâng cao được vị thế của ngân hàng trên thị trường.
-Vốn là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng Với mỗi ngân hàng quy mô và trình độ công nghệ hiện đại là tiền đề dé thu hút nguồn vốn lớn cả về lượng và chất. Đồng thời, khả năng về vốn lớn là cơ sở để ngân hang mở rộng khối lượng tin dụng và có thé quyết định cả mức lãi suất cho vay. Từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế trong cạnh tranh, giúp ngân hàng có tiềm lực trong việc mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, mua bán nợ, kinh doanh chứng khoán. Vốn có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Do đó, NHTM không ngừng có các biện pháp nhằm hoàn thiện huy động vốn, mở rộng huy động vốn dé giữ vững va phát triển mối quan hệ với khách hàng. Đối với khách hàng - Đối với khách hàng gửi tiền: Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng. Đối với khách hàng, nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn dé họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi có mức độ rủi ro thấp.
- Đối với khách hàng là người cần vốn: Vốn huy động của ngân hàng là một nguồn lực cơ hội cho các khách hàng đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. thông qua nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thường không đủ đáp ứng cho việc mở rộng quy mô cũng như nâng cao công nghệ, năng suất trong hoạt động sản xuất kinh doanh do đó doanh nghiệp phải đi vay vốn 11 nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu tư của mình. Hệ thống NHTM là trung gian cầu nối làm cho việc tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân trở nên dễ dàng hơn, chủ động hơn đồng thời sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn.
Các phương thức huy động von của Ngân hàng thương mại 1. Huy động tiên gửi - Huy động tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi có thể rút ra sử dụng bat cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi bao gồm: - Tiền gửi thanh toán: là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán chỉ trả cho các hoạt động hàng hoá dịch vụ và các khoản phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận lợi. Tiền gửi thanh toán thường được quản lý tại ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai.
- Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: là khoản tiền được ký gửi với mục đích bao quản an toàn tai sản. Khi cần khách hàng có thé rút ra dé chi tiêu. Ở Việt Nam tiền gửi loại này được thê hiện đưới các hình thức như: Tiền gửi không kỳ hạn của các tô chức, cá nhân. Do tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt còn thấp, để khuyến khích thanh toán qua ngân hàng, các NHTM Việt Nam trả lãi cho loại tiền gửi này như tiền gửi không kỳ hạn khác.
Ở các nước phát triển loại tiền gửi này chiếm vị trí quan trong trong kết cấu nguồn vốn và có chi phí đầu vào rất thấp. - Huy động tiền gửi có kỳ hạn Đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi và rút tiền. Dai bộ phận tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và ký thác để hưởng lãi. Các NHTM nhận hai loại tiền gửi có kỳ hạn đó là tiền gửi có kỳ han và tiền gửi báo rút.
Day là nguồn tiền tương đối ồn định, ngân hàng có thé sử dụng phần lớn để kinh doanh. Chính vì vậy, NHTM luôn tìm cách để đa dạng hoá loại tiền gửi này nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng.