Chương 1 M Ộ T S Ố V Ấ N Đ Ể C ơ B Ả N V Ể R Ủ I R O T ÍN D Ụ N G V À H IỆ U Q U Ả Q U Ả N L Ý R Ủ I R O T ÍN D Ụ N G C Ủ A N G Â N H À N G T H Ư Ơ N G M Ạ I 1. R ủ i ro tín d ụ n g c ủ a n g â n h à n g th ư ơ n g m ại 1. Khái niệm Cấp tín dụng là hoạt động cơ bản của một NHTM, nó mang lại thu nhập chính cho ngân hàng tuy nhiên cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất. RRTD phát sinh khi người vay hoặc bên đối tác có nguy cơ không thể thực hiện được trách nhiệm trong giao dịch tín dụng, ngân hàng có nguy cơ không nhận được phần gốc và/hoặc lãi của các khoản vay.Kech: "RRRD là sự thay đổi của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hoặc thanh toán trề hạn.
Theo Uỷ ban Basel: "RKĨD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điêu khoản đã thoả thuận". Thực chất rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng theo Uỷ ban Basel đó là: "Sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng" mà sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lã i. Tại Việt Nam, theo Quyết định 493/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN thì "RKTD trong hoạt động của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết". Như vậy bản chất RRTD là những khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng; những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng gánh chịu do người vay vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý do gì.
Đặc điểm của rủi ro tín dụng * RRTD mang tính chất gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn có sự tách rời giữa quyển sở hữu và quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gian nhất định. Vì vậy, nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc sử dụng vốn không hiệu quả dẫn tới khả năng thua lồ cho khách hang, từ đó RRTD xuất hiện. * RKTD có tính chất đa dạng và phức tạp: Hoạt động tín dụng rất đa dạng và phức tạp, mỗi khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng co nhưng đặc thù riêng và có những khả năng dẫn tới rủi ro không giông nhau. * Rủi ro luôn gắn liền với hoạt động tín dụng: Ngay khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng đã có một mức rủi ro được xác lập do thông tin không cân xứng giữa người đi vay và người cho vay.
Hơn nữa, hoạt động kinh doanh của khách hàng luôn bị tác động bởi hàng loạt các yếu tố khách quan, chủ quan. Do vậy khi khách hàng sử dụng tiền vay của ngân hàng trong thời hạn hợp đổngtín dụng đã ký kết, nó luôn chứa đựng yếu tố rủi ro đối với ngân hàng trong việc thu hồi gốc lãi tiền vay đúng hạn bởi rủi ro không lường trước được của khách hàng trong hoạt động kinh doanh. Phân loại rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách thức để phân loại RRTD, dưới đây có thể đưa ra một sô cách thức phân loại RRTD như sau: - Căn cứ vào mức độ rủi ro có thể xảy ra có thể phân thành 2 loại: Rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Rủi ro đọng vốn: Là những khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cung cấp tín dụng.
Nó ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng sử dụng vốn cũng như gây cản trở và khó khăn cho việc chí trả người gửi tiền. Rủi ro mất vốn: Là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng 6 nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kê lý do gì. Nó co anh hương trực tiếp đến ngân hàng làm tăng chi phí đó là những khoản chi phi giam sat, chi phí pháp lý, tao thành những khoản nợ quá hạn và nợ khó đòi đ ô i VỚI ngân hang, đồng thời làm cho số lượng và vòng quay vốn khả dụng giảm, lãi dự thu chậm và có nguy cơ mất trắng, kéo theo đó là khả năng sinh lời giảm do mât gôc va thực hiện những khoản dự trữ tăng lên. - C ăn cứ vào t í n h c h ấ t c ủ a r ủ i r o có thể chia thành những l o ạ i sau: S ơ đ ồ 1 .1 : C á c lo ạ i R R T D của N H T M RRTD bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk).
Rủi ro danh mục được phân ra hai loại rủi ro nội tại (Intrinsic risk) va nil ro tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yêu tô mang tmh riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Rủi ro tập trung la mưc dư nợ cho vay được dồn cho một sô khách hàng, một số ngành kinh tê hoạc mọt so loại cho vay hoặc một số khu vực địa lý. R ủ i ro g ia o d ịch có 3 thành phần: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiêp vu.
Rủi ro lưa chọn là rủi ro liên quan đến thâm đinh va phan tích tin dụng. Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loai tài sản bảo đảm và mức độ an toan cua no. Rui ro nghiêp vu là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay, như xay dựng va 7 thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiểm soát danh mục cho vay, tái sét và giám sát danh mục cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn dề. Nguyên nhân rủi ro tín dụng 1.
Nguyên nhân khách quan - Môi trường chính trị - pháp luật Nền chính trị quốc gia ổn định là điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, là điều kiện thuận lợi thu hút, gọi vốn đầu tư. Ngược lại, môi trường chính trị kém ổn định, xảy ra xung đột, chiến tranh.tất yếu dẫn đến sản xuất ngừng trệ: doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng, RRTD là rất cao. Các yếu tố pháp lý có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp ngân hàng hoạt động và tuân thủ pháp luật.
Hành lang pháp lý không đồng bộ, Luật pháp thường xuyên thay đổi, không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng gây trở ngại rất lớn cho việc tuân thủ pháp luật, thậm chí là yếu tố thúc đẩy hành vi vi phạm pháp luật như : Trốn lậu thuế, lách luật vì mục tiêu lợi nhuận, hoặc gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các doanh nghiệp khi có tranh chấp pháp lý với doanh nghiệp nước ngoài.dẫn tới suy giảm khả năng trả nợ ngân hàng của các khách hàng vay vốn. - Môi trường kinh tê Những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như: Chính sách tài khoá, đất đai, thuế, chính sách tiền lệ, xuất nhập khẩu.có tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có các NHTM. Những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô tác động có thể theo chiều hướng thúc đẩy, khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển của các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong trường hợp môi trường kinh tế v ĩ mô mang yếu tố bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể vay vốn 8 ngân hàng, có thể là nguyên nhân dẫn đến RRTD.
Chu kỳ kinh tế cũng tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong giai đoạn kinh tê hưng thịnh, tăng trưởng ổn định dẫn đến người đi vay vốn để hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ thuận lợi, lợi nhuận thu được ổn định theo dự kiến, khả năng hoàn trả vốn vay là gần như chắc chắn. Ngược lại khi nền kinh tế có chiều hướng đi xuống, sức mua giảm sút, người đi vay vốn rất khó trong tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn do vậy khả năng trả nợ ngân hàng giảm sút dẫn tới RRTD cho ngân hàng cho vay. Vấn đề lạm phát, vấn đề thất nghiệp, vấn đề tỷ giá.
cũng là nguyên nhân có tác động manh đến hoạt động của ngân hàng và các doanh nghiệp trong nên kinh tê và cũng vì thế là nguyên nhân dẫn đến RRTD cho ngân hàng. - M ô i trư ờ n g tự n h iên Những nguyên nhân từ mồi trường tự nhiên như : Thiên tai địch hoạ, động đất núi lửa, lũ lụt, dịch bệnh.gây ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới hoại động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của khách hàng vay vốn ngân hàng làm suy giảm khả năng trả nợ vay ngân hàng dẫn tới RRTD. N g u y ê n n h ân từ p h ía n gân h à n g Những nguyên nhân chủ quan thuộc về ngân hàng được uỷ ban Basel thống kê cho thấy RRTD thường phụ thuộc chủ yếu vào: Mức độ tập trung và các vấn đề về quy trình cấp tín dụng. - M ứ c độ tậ p tru n g : RRTD phát sinh khi một nội dung trong danh mục tín dụng trở lên tương đối lớn so với mức vốn, tài sản của Ngân hàng.
Rui ro tập trung tín dung không những phụ (thuộc vào giá trị tín dụng mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro. Rủi ro tập trung tín dụng có thể được phân chia thành 2 loại: Rủi ro tập trung tín dụng thông thường xảy ra khi tín dụng tập trung quá nhiêu vào một khách hàng, một nhóm khách hàng, một ngành hoặc một lĩnh vực (ví dụ như bât động sản, xây dựng cơ bản.