chương 1, tác giả đã giới thiệu sơ lược về khóa luận. Trong đó tác giả đã đưa ra lý do chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam”, qua đó tác giả cũng đưa ra mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của đề tài và cùng với đó là ba câu hỏi nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố nào có tác động đến hệ số an toàn vốn tại các NHTM tại Việt Nam và các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào. Tiếp theo, khóa luận trình bày về đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN 2. Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng Thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ thanh toán, có sự liên hệ mật thiết đến mọi khía cạnh của nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Ngân hàng đóng vai trò quan trọng như một nguồn tiết kiệm và phân bổ tín dụng chủ đạo trong nền kinh tế. Bằng cách huy động vốn từ nguồn tiết kiệm và chuyển hóa thành các khoản đầu tư, ngân hàng không chỉ kích thích sự phát triển kinh tế mà còn là cầu nối giữa những người cần gửi tiết kiệm và những người có nhu cầu vay vốn.
Bên cạnh mục tiêu hàng đầu là tạo ra lợi nhuận để tích lũy vốn và mở rộng quy mô nhằm tăng cường sức cạnh tranh, việc đảm bảo mức vốn an toàn tối thiểu để duy trì sự ổn định và xây dựng lòng tin từ công chúng đối với từng ngân hàng và toàn bộ hệ thống ngân hàng là yếu tố vô cùng quan trọng. Điều này là vì, với việc lĩnh vực tài chính phần nào bị chi phối bởi các NHTM, bất kỳ sự cố nào xảy ra ở một NHTM cũng có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế. Thực tế đã chứng minh rằng khi một ngân hàng phá sản, hiệu ứng domino có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và nhiều hệ lụy khác. Nếu cần điều chỉnh thêm gì, bạn có thể cho mình biết nhé!Theo Parvesh Kumar Aspal & Nazneen (2014), Hệ số an toàn vốn là cơ sở đo lường mức độ an toàn của vốn và được xem như là một trong những chỉ tiêu về sức khoẻ tài chính của các NH và cực kỳ hữu ích trong việc ngăn chặn và đảm bảo các NH có thể chịu đựng các tổn thất về việc cho vay dẫn đến bị phá sản.
Chỉ số này được đánh giá xem sức khoẻ của một ngân hàng tốt hay không, vì nó cho thấy khả năng chịu đựng những tốn thất bất ngờ trong tương lai của một NHTM. Khái niệm về hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn được tiêu chuẩn hoá và đo lường bởi tổ chức Ủy ban Basel về giám sát hoạt động của NH (The Basel Committee on Banking Supervision). Ủy ban Basel là một trong năm ủy ban quan trọng của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank 7 of international Settlements), được thành lập vào năm 1974 bởi Ngân hàng Trung ương thuộc chính phủ của 10 nước ( Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển ,Anh và Mỹ) thuộc nhóm G10 với mục đích cải thiện sự ổn định tài chính bằng cách giám sát các hoạt đông của NHTM trên toàn cầu, là một diễn đàn hợp tác thường xuyên giữa các quốc gia thành viên về vấn đề giám sát ngân hàng của các quốc gia, các phương pháp và kỹ thuật với phương châm là để có sự hiểu biết và đồng nhất về các vấn đề đó. Trên cơ sở đó Ủy ban dùng sự hiểu biết đồng nhất này để xây dựng các văn bản hướng dẫn và tiêu chuẩn, một trong số đó là quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Trong đó an toàn vốn tối thiểu là nguyên tắc thứ 6 trên tổng số 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel. Do đó, các cơ quan quản lý Nhà nước phải đưa ra các quy định về an toàn vốn tối thiểu phù hợp với các ngân hàng để phản ảnh được những rủi ro mà ngân hàng gặp phải, và phải quy định rõ ràng về thành phần của vốn, đảm bảo ngân hàng có khả năng chịu được lỗ vốn NHNN Việt Nam, (2009). Đối với các ngân hàng hoạt động quốc tế các quy định do Ủy ban đưa ra không được thấp hơn mức quy định. Tại Việt Nam, việc triển khai áp dụng Hiệp ước Basel đã bước đầu được thực hiện từ năm 2005 khi NHNN Việt Nam ban hành Quyết định số 457/2005/QĐ- NHNN dựa theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel I và cập nhất mới nhất là Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định áp dụng CAR theo tiêu chuẩn Basel II từ ngày 01/01/2020 với tỷ lệ tối thiểu là 8%.
Qua những khái niệm về Hệ số an toàn vốn như trên ta có thể hiểu là thước đo về vốn tự có của NH so với tổng tài sản đã có điều chỉnh rủi ro, phần vốn tự có này được dùng để bù đắp cho các tổn thất bất ngờ nhằm để hoạt động của ngân hàng được đảm bảo diễn ra xuyên suốt. Đo lường hệ số an toàn vốn 2. Đo lường theo Basel 1 Mục đích của Basel 1: nhằm tăng cường sự ổn định của toàn bộ hệ thống NHQT, nhằm thiết lập một hệ thống NHQT một cách thống nhất và bình đẳng giúp cho việc cạnh tranh song phẳng giữa các NHQT. Theo tiêu chuẩn này, Ngân hàng phải giữ lại ít nhất 8% tổng tài sản, được tính toán bằng nhiều phương pháp khác nhau và sẽ phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng.
Vốn tự có Hệ số vốn an toàn (CAR) = (2.1) Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền RWA Theo đó, NH có CAR > 10 được xem là một NH tốt, có mức vốn phù hợp khi CAR > 8%, thiếu hụt vốn khi CAR <8%, Đáng lo ngại khi dưới 6% và đáng báo động khi dưới 2%. Vốn cấp 1, vốn cấp 2, vốn cấp 3: theo Basel định nghĩa chung nhất về vốn của NH và tỷ lệ vốn an toàn của NH; tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 phải lớn hoặc bằng tổng của vốn cấp 2 và vốn cấp 3 Vốn cấp 1: là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố như là khoản dự phòng các khoản vay bao gồm: vốn chủ sở hữu; lợi nhuận giữ lại; lợi ích thiểu số tại các công ty con; lợi thế kinh doanh. Vốn cấp 2: bao gồm lợi nhuận giữ lại không được công bố; dự phòng đánh giá lại tài sản; dự phòng chung/dự phòng tổn thất nợ chung; công cụ vốn hỗn hợp; vay với thời hạn ưu đãi; đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác. Vốn cấp 3: là vốn vay ngắn hạn trên thị trường.
Tài sản có rủi ro (RWA) được tính bằng công thức: 𝑇ổ𝑛𝑔 (𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑥 𝑀ứ𝑐 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑝ℎâ𝑛 đị𝑛ℎ 𝑐ℎ𝑜 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑏ả𝑛𝑔 𝑐â𝑛 đố𝑖 𝑘ế 𝑡𝑜á𝑛) (2.2) 𝑇ổ𝑛𝑔 (𝑁ợ 𝑡ươ𝑛𝑔 đươ𝑛𝑔 𝑥 𝑀ứ𝑐 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑛𝑔𝑜ạ𝑖 𝑏ả𝑛𝑔) Basel I chia tài sản theo 4 nhóm có hệ số rủi ro tương ứng là 0%, 25%, 50%, 100%. Quy tắc đo lường rủi ro của Basel I cũng giống như mức độ rủi ro tài sản chỉ dựa trên tài sản thế chấp và nhóm khách hàng chứ không dựa trên quy mô khoản vay, thời hạn vay và mức uy tín của từng cá nhân đi vay. 9 Thiếu sót của Basel: sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Ủy ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các NHTM, 1996 Basel 1 đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. Hạn chế của Basel 1: Không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ rủi ro ngày càng tăng lên đó là rủi ro vận hành (không yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành), không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hoá.
Đo lương theo Basal 2 Mục tiêu của Basel 2: Năng cao chất lượng và sự ổn định của toàn bộ hệ thống NHQT, tạo lập duy trì một sân chơi công bằng và bình đẳng cho các NHTM trên quốc tế, đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Basel 2 sử dụng khái niệm “Ba trụ cột” Trụ cột thứ nhất: Theo đó tỷ lệ duy trì vốn bắc buộc tối thiểu (CAR) là 8% của tổng tài sản như Basel 1, tuy nhiên khác với cách tính rủi ro của Basel 1 chỉ đề cập đến một loại rủi ro thì Basel 2 quan tâm đến 3 loại rủi ro đó chính là: rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành và rủi ro thị trường. So với Basel cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự thay đổi lớn, rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ và rủi ro vận hành là hoàn toàn mới. Trọng số rủi ro của Basel 2 bao gồm nhiều mức từ 0%-150% hoặc hơn kèm theo đó rất nhạy cảm với xếp hạng.
Trụ cột thứ hai: Rà soát giám sát; được bổ sung giám sát trở nên hiệu quả và nhấn mạnh 4 nguyên tắc rà soát: Thứ nhất, Ngân hàng cần thiết lập quy trình đánh giá tổng quan CAR theo danh mục rủi ro của mình và xây dựng chiến lược duy trì mức vốn đó. Quá trình quản trị rủi ro NH bao gồm giám sát của HĐQT và ban điều hành; ước tính mức vốn hợp lý; đánh giá rủi ro toàn diện; giám sát và báo cáo; và đánh giá hoạt động kiểm soát nội bộ. 10 Thứ hai, các cơ quan điều hành có nghĩa vụ kiểm tra và đánh giá các chiến lược mức độ an toàn vốn nội bộ của NH; kiểm tra và giám sát tình hình áp dụng hệ số CAR của các NH theo đúng quy định. Sau kết quả giám sát nếu không đạt yêu cầu thì phải có biện pháp xử lý phù hợp.
Thứ ba, tỷ lệ CAR phải trên mức tối thiểu vì đây được xem là tính năng bổ sung của Basel II để đảm bảo các NH duy trì tỷ lệ vốn trên mức tối thiểu được xác định bởi trụ cột I.