PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo thống kê của Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE, 2021) thì nhóm công ty, doanh nghiệp có cổ phiếu trong danh mục VN30 (gọi tắt là doanh nghiệp trong danh mục VN30) năm 2020 tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực lần lƣợt sau: Ngân hàng (chiếm 30% tổng số công ty), Bất động sản (20%), Sản xuất (10%), Tài chính (6,7%), Viễn thông (6,7%), xây dựng (6,7%), dầu khí (6,7%), còn lại nhóm công ty bảo hiểm, tập đoàn thực phẩm, chứng khoán, hàng không chiếm 13,33%. Đây đƣợc xem là khối 30 công ty, doanh nghiệp lớn hàng đầu đang Niêm yết trên sàn HOSE, chiếm khoảng hơn 80% tổng Giá trị vốn hóa của cả Thị trƣờng (VN-Index). Trong giai đoạn từ 2010-2021, khối doanh nghiệp ngày càng đƣợc Đảng và nhà nƣớc quan tâm, đặc biệt là doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực xây dựng, năng lƣợng, dầu khí, viễn thông, tài chính ngân hàng, vv.
Điển hình, theo Văn kiện Đại hội XII, năm 2016 đã xác định rõ ―kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tƣ nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế‖. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã có những nỗ lực tạo các đột phá về thể chế để phát triển kinh tế bền vững và có tính hội nhập cao hơn đƣợc thể hiện tập trung trong chủ trƣơng xây dựng một Chính phủ kiến tạo, liêm chính và đồng hành cùng doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành các chiến lƣợc phát triển các ngành sau: Quyết định 1855/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Chiến lƣợc phát triển năng lƣợng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 6/10/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Chiến lƣợc phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020; Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 18/4/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc Tài chính đến năm 2020, vv. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh Chính phủ đã và đang khuyến khích phát triển các nhóm ngành nghề này thì hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trên nhƣ thế nào? Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện mối tƣơng quan giữa các biến số đầu ra thu đƣợc so với các biến số đầu vào đã đƣợc sử dụng để tạo ra những đầu ra đó.
Theo đó, hiệu quả chi phí (cost efficiency) hay hiệu quả kinh tế (economic efficiency) bao gồm hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) và hiệu quả 1 phân bổ (allocative efficiency). Hiệu quả kỹ thuật thể hiện khả năng đơn vị có thể sản xuất tối đa bao nhiêu đầu ra với đầu vào cho trƣớc. Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng đơn vị sản xuất sử dụng các đầu vào theo tỷ lệ tối ƣu khi đã biết giá cả của chúng. Phần lớn hiệu quả hoạt động của các công ty, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan nội tại doanh nghiệp.
Chẳng hạn, các yếu tố liên quan đến đặc điểm của Hội đồng quản trị gồm: quy mô hội đồng (Belkhir, 2014; O’connell và Cramer, 2010), giới tính của các thành viên hội đồng (Carter và cộng sự, 2003; campell và minguez-Vera, 2008; Nguyễn Minh Tân và cộng sự, 2015), tỷ lệ sở hữu vốn (Yermack, 1996; Shah và cộng sự, 2010; McConnel và Servaes, 1990); hoặc quy mô hoạt động của công ty (O’connell và Cramer, 2010); số năm hoạt động của công ty (Kinyua, 2014; Nguyễn Minh Tân và cộng sự, 2015), vv. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp. Đó là bối cảnh nền kinh tế của từng quốc gia (Guest, 2009); hoặc đặc trƣng ngành nghề hoạt động và cơ hội tăng trƣởng của công ty niêm yết (Bhagat và Black, 2002; Schnake, 2006); hoặc các chính sách hỗ trợ của Chính phủ (Hansen và cộng sự, 2002; Phan Đình Khôi và cộng sự, 2008; Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam, 2011), vv. Hiện nay, các nghiên cứu thực nghiệm ở trong nƣớc về các tác động đồng thời của các yếu tố nội tại doanh nghiệp và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là rất ít.
Chính điều này dẫn đến nhiều nghi vấn đặt ra cho sự tác động này. Nhất là với nhóm doanh nghiệp có cổ phiếu trong danh mục VN30 thì lại càng ít các đề tài nghiên cứu này. Ngoài ra, với các phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây thƣờng sử sụng thƣờng là Mô hình hồi tác động cố định (Fixed- effects) và tác động ngẫu nhiên (random-effects) tức FEM-REM; phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (Ordinary Least Square-OLS), phƣơng pháp Pool OLS, vv. Nhƣng một số phƣơng pháp mới rất ít đƣợc sử dụng đó là phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất hiệu chỉnh đầy đủ (Full Modified Ordinary Least Square-FMOLS), phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất tổng quát khả thi (Feasible Genenral Least Square- FGLS) hoặc mô hình hiệu chỉnh sai số (Estimating Error Correction Model-ECM) để đánh giá về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn.
2 Do đó, đề tài ―Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp VN30 trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam‖ là rất cần thiết. Để có thể vừa kiểm tra phối hợp các yếu tố liên quan đến cơ chế quản trị nội bộ doanh nghiệp (đặc điểm liên quan đến hội đồng quản trị, chính sách tài chính của doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu vốn cấp quản lý, thù lao ban quản trị, một số chỉ số tài chính của doanh nghiệp…) và các yếu tố bên ngoài (chủ yếu là yếu tố về kinh tế vĩ mô), nhằm xác định mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của do anh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thuộc top VN30 (gọi tắt là doanh nghiệp trong danh mục VN30). Đề tài sẽ là cơ sở đề ra những giải pháp và cho hoạch định các chính sách vĩ mô giúp cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, áp dụng các phƣơng pháp mới để có thể đem đến cái nhìn đa chiều, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ thực nghiệm cấp cơ sở tại Học viện Ngân hàng năm học 2022-2023.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Xem xét mức độ ảnh hƣởng trong ngắn hạn và dài hạn của các yếu tố liên quan đến cơ chế quản trị nội bộ doanh nghiệp (yếu tố bên trong) và các yếu tố kinh tế vĩ mô (yếu tố bên ngoài) đến hiệu quả hoạt động của các công ty, doanh nghiệp có cổ phiếu trong danh mục VN30. Từ đó, đề xuất các giải pháp và chính sách đột phá để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của khối các doanh nghiệp 2. Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá đƣợc hiệu quả hoạt động của các công ty, doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, nằm trong danh mục VN30, trong giai đoạn 11 năm từ năm 2010 – 2021; - Đo lƣờng tác động của các yếu tố bên trong (đặc điểm liên quan đến hội đồng quản trị, chính sách tài chính của doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu vốn cấp quản lý, thù lao ban quản trị, một số chỉ số tài chính của doanh nghiệp…) và bên ngoài doanh nghiệp (các yếu tố kinh tế vĩ mô) đến hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp VN30, và xác định mức độ ảnh hƣởng quan trọng của các yếu tố này trong ngắn hạn và dài hạn; - Đề xuất một số giải pháp tiêu biểu và khả thi cho công tác quản trị cho các doanh nghiệp thuộc nhóm danh mục VN30, và giải pháp về chính sách để giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn tới.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phi tài chính có cổ phiếu thuộc danh mục VN30 trong ngắn hạn và dài hạn; - Đối tƣợng khảo sát: Các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán trong danh mục VN30. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Các doanh nghiệp phi tài chính thuộc danh mục VN30 tại Việt Nam. - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến 2021. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phƣơng pháp định lƣợng.
Trong đó gồm các việc xây dựng mô hình kinh tế lƣợng, thu thập dữ liệu và sử dụng các mô hình hồi quy trong ngắn hạn và dài hạn để đạt đƣợc các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra. Có nhiều phƣơng pháp định lƣợng có thể giúp ƣớc lƣợng đƣợc sự ảnh hƣởng của các yếu tố đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhƣng trong phạm vi đề tài này, chúng tôi dự kiến áp dụng các phƣơng pháp sau: Phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất hiệu chỉnh đầy đủ (Full Modified Ordinary Least Square-FMOLS) và mô hình hiệu chỉnh sai số (Estimating Error Correction Model-ECM) với dữ liệu panel để ƣớc lƣợng sự tác động trong ngắn hạn và dài hạn của các yếu tố nêu trên đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp VN30. Đồng thời phân tích, xác định mức độ ảnh hƣởng và vai trò quan trọng của các yếu tố đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu, là động lực mà các doanh nghiệp (DN) theo đuổi. Tất cả mọi kế hoạch, phƣơng pháp quản trị hay phƣơng án kinh doanh đều đi đến mục tiêu làm sao để hiệu quả là cao nhất. Cùng với sự phát triển của xã hội thì khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng đƣợc phát triển, đƣợc hoàn thiện.
Tuy nhiên vẫn không ít các quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thuật ngữ ―Hiệu quả‖ trong kinh tế đƣợc nhắc đến rất sớm với rất nhiều các lý thuyết khác nhau. Trung tâm của khái niệm ― Hiệu quả ― phải đƣợc nhắc đến là nhà Kinh tế học ngƣời Italia Vilfredo Pareto. Lý luận của ông đã đƣợc đặt bằng đúng tên ông với khái niệm ―Hiệu quả Pareto‖.
Theo khái niệm này thì Pareto cho rằng một nền kinh tế gọi là đạt đƣợc hiệu quả Pareto khi không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất một ngƣời đƣợc lợi hơn mà không phải làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác. Nhƣ vậy, chúng ta sẽ thấy đƣợc rằng một nền kinh tế đạt đƣợc hiệu quả khi nguồn lực của nền kinh tế này đƣợc sử dụng một cách tối ƣu mà không thể có cách phân bổ nào tốt hơn cách phân bổ này.