Chương 1 giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu và những vấn đề liên quan. Chương giúp tổng quan đề tài nghiên cứu một cách tổng quan giúp người đọc có thể hình dung được nội dung cơ bản của toàn bộ bài văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung cơ bản của chương 2 đó chính là cơ sở lý thuyết. Chương 2 xây dựng nền tảng lý thuyết cơ bản về hành vi tiêu dùng và các mô hình lý thuyết cơ bản để góp phần dựng nên mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản đó là định tính và định lượng. Với phương pháp định tính: tổng hợp các lý thuyết đi trước, tìm ra những lý thuyết cơ bản và các mô hình cơ bản. Phương pháp định lượng: sử dụng các phương pháp phân tích hệ số Cronbach a’lpha và phân tích EFA nhằm mục đích đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi sử dụng túi giấy cao cấp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Phân tích kết quả nghiên cứu chúng ta thấy được ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi tiêu dùng của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 5: Tổng kết đề tài Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu, đánh giá nhận định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng túi giấy cao cấp, và đưa ra những giải pháp góp phần 4 nâng cao hành vi tiêu dùng túi giấy cao cấp, góp phần tạo nên môi trường xanh, sạch đẹp. 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Lịch sử của túi giấy 2. Nguồn gốc của túi giấy Sự trỗi dậy ban đầu của túi giấy được cho là vào năm 1852.
Giáo viên Francis Wolle và anh trai của ông đã phát minh ra chiếc máy đầu tiên sản xuất hàng loạt túi giấy phẳng, kiểu phong bì. Họ đã cấp bằng sáng chế cho chiếc máy này và sau đó thành lập Công ty Túi giấy Union. Việc phát minh ra một chiếc máy có thể sản xuất túi hàng loạt là một bước đệm lớn trong việc sử dụng rộng rãi túi giấy. Tuy nhiên, những chiếc túi này rất đơn giản, phẳng và không đựng được nhiều đồ.
Năm 1871, nhà phát minh Margaret E. Knight đã thiết kế một chiếc máy có thể tạo ra những chiếc túi giấy đáy phẳng, có thể đựng được nhiều đồ hơn so với thiết kế kiểu phong bì trước đây. Cô nhận được một công việc làm việc tại công ty Túi giấy Columbia ở Springfield, Massachusetts. Cô bắt đầu thử nghiệm các thiết kế máy có thể nạp, cắt và gấp giấy tự động vào túi giấy đáy phẳng.
Trước phát minh này, túi giấy đáy phẳng được coi là “thủ công” và rất khó để sản xuất Hình 2.1: Nguồn gốc của túi giấy Khi cô ấy đã chế tạo được một mô hình hoạt động của máy gấp giấy tự động của mình, Knight đã nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho sáng tạo của mình. Knight đã gặp phải nghịch cảnh do một kẻ sao chép đã cố gắng khẳng định thiết kế của cô ấy là của riêng anh ta, nhưng cuối cùng Knight đã giành được bằng sáng chế hợp 6 pháp của mình sau một vụ kiện tụng. Rất ít phụ nữ nắm giữ bằng sáng chế vào thời điểm đó, và sự táo bạo và kiên trì của cô ấy để khẳng định thiết kế của riêng mình đã được tôn vinh vì quyền của phụ nữ. Túi giấy đầu tiên Năm 1912, Walter Deubener, một cửa hàng tạp hóa ở Saint Paul, Minnesota, nhận thấy rằng những người mua hàng của ông gặp khó khăn khi mang hàng tạp hóa về nhà với các lựa chọn túi hiện có.
Anh ấy đã thử nghiệm bằng cách đục lỗ trên một chiếc bao giấy tiêu chuẩn và luồn dây qua các lỗ để tạo tay cầm. Anh ấy và vợ, Lydia, đã làm 50 chiếc túi này để bán với giá 5 xu mỗi chiếc và bán hết sạch ngay lập tức. Ông quyết định đăng ký bằng sáng chế cho phát minh của mình và đặt tên cho nó là “Túi mua hàng Deubener”. Đến năm 1915, họ đã bán được hơn một triệu túi mỗi năm.
Phân biệt các loại túi giấy Có 5 loại túi giấy tiêu biểu:Loại thứ nhất: Sos takeaway Bags Túi giấy Sos takeaway hay còn được gọi là – túi giấy sos, túi giấy kraft nâu, túi giấy kraft có quai, túi giấy kraft không quai, hay túi giấy nâu đơn giản. Nhưng 7 như Shakespeare qua Juliet đã từng hỏi: 'Cái tên có ý nghĩa gì?', sos túi mang đi nổi tiếng hơn vì sự tiện dụng, tiện ích, sức chứa và độ bền hơn là tên của chúng. Túi giấy Sos takeaway Loại túi giấy thứ 2: Flag bags Những chiếc túi phẳng được sở hữu phổ biến vì tính chất đa năng và dễ di chuyển của chúng. Đây là túi giấy được sử dụng nhiều nhất trên toàn thế giới.
Với túi phẳng, hơn cả đó là tính năng vượt trội của loại tính năng này. Túi phẳng sẽ phù hợp với các loại đồ ăn, đồ uống, các loại hoa quả, trái cây. Túi giấy Flat bags Loại túi giấy thứ 3: shopping bags 8 Loại túi thứ ba đó chính là Shopping bag phù hợp các thương hiệu thời trang. Túi giấy như một công cụ tiếp thị, quảng bá hình ảnh công ty, doanh nghiệp.
Về vẻ ngoài của những loại túi giấy này, chúng đều đơn giản và tinh tế. Được sử dụng, máu sắc, hình ảnh, hình in, thương hiệu rất hấp dẫn ngay trên đó. Ngoài ra, túi giấy shopping bags có không gian lớn, có thể chứa lớn, để có thể chứa đựng được nhiều. Túi giấy shopping bags Loại túi giấy thứ 4: Bakery Bags Túi bánh là một kỳ quan khác của túi giấy, chứa hương vị trong cả túi giấy.
Với loại túi giấy này, có rất nhiều kiểu dáng khác nhau với từng loại bánh, với từng hương vị khác nhau. Hơn nữa, túi đựng bánh có rất nhiều hình dạng, kích cỡ và chủng loại. Chưa kể, đối với nhiều người, những loại túi giấy này còn xếp dưới dạng túi bỏng ngô, túi dải kẹo, túi cá và khoai tây chiên, túi cửa sổ dải, túi kết hợp phim, v. Túi giấy Bakery Bags Các loại túi giấy: Scotchban Và, cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, là những chiếc túi giấy Scothban.
Những loại túi giấy này thuộc về một loại tầm quan trọng đặc biệt. Ở nhiều vùng, loại túi giấy này còn được gọi là túi giấy chống thấm dầu mỡ. Túi giấy Scotchban được chế tạo đặc biệt để giữ cho các đồ nhiều dầu mỡ như thực phẩm nhiều dầu mỡ không gây rắc rối cho quần áo của bạn hoặc các khu vực xung quanh. Tính năng tốt thứ hai của các loại túi giấy này là chúng có thể phân hủy 100%, giống như giấy kraft làm sos takeaway và túi phẳng.8 Túi giấy Scotchban Tóm lại, có rất nhiều túi giấy với nhiều chủng loại khác nhau.
Và tùy vào từng mức giá, từng chủng loại thì chúng ta có nhiều loại túi khác nhau. Cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2. Hành vi tiêu dùng Hành vi tiêu dùng đó là những hành động, các phản ứng của họ trong quá trình tìm kiếm, tìm hiểu và mua hàng, và đánh giá cho các loại hàng hóa và các loại dịch vụ mà những người tiêu dùng họ sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng. (Kotler & Levy (2013), hành vi tiêu dùng đó là hành vi của người tiêu dùng trong khi đưa ra quyết định sử dụng một loại hàng hóa, dịch vụ dưới sự tác động của tác nhân môi trường vào ý thức của người mua.
Trong hành vi mua sắm tiêu dùng, tiêu cùng là những hành động, phản ứng của người tiêu dùng khi sử dụng các loại túi giấy. Với các loại túi giấy khác nhau, thì hành vi tiêu dùng cũng khác nhau. Thuyết hành động hợp lý TRA Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA; Ajzen và Fishbein, 1980) khẳng định rằng ý chí và ý định dự đoán hành vi. Theo TRA, nếu mọi người đánh giá hành vi được đề xuất là tích cực (thái độ) và nếu họ nghĩ rằng những người khác muốn họ thực hiện hành vi đó (chuẩn chủ quan), điều này dẫn đến ý định cao hơn (động cơ) và họ có nhiều khả năng thực hiện hành vi hơn.
Mối tương quan cao giữa thái độ và chuẩn mực chủ quan với ý định hành vi và hành vi đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu (Sheppard và cộng sự, 1998). Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên cứu chỉ ra một hạn chế của lý thuyết này: ý định hành vi không phải lúc nào cũng dẫn đến hành vi thực tế. Một lập luận phản bác lại mối quan hệ chặt chẽ giữa ý định hành vi và hành vi thực tế đã dẫn đến sự phát triển của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, một mô hình bao gồm tác động của các yếu tố không tự nguyện lên hành vi. Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2.
Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA 11 Thái độ là nhân tố quyết định đến ý định và cảm nhận của người đó quyết định đến hành vi. Thái độ này được ảnh hưởng bởi hai yếu tố đó là thái độ (attitude) và chuẩn chủ quan (subjective norm). Hai nhân tố này sẽ ảnh hưởng đến hành vi của một cá nhân (Sudin, Geofey và Hanudin, 2009). Thái độ là những hành vi nhất định có thể tích cực, tiêu cực hoặc trung bình.
Thuyết TRA qui định có sự tương quan trực tiếp giữa thái độ và kết quả. Nếu người ta tin rằng hành vi nào đó sẽ dẫn đến một kết quả không tốt hoặc là không thật sự thuận lợi, thì đa số là người đó có thái độ tiêu cực trước vấn đề đó. Chuẩn chủ quan là nhân tố rất quan trọng quyết định đến nhận thức cá nhân hoặc các nhóm người liên quan như là bạn bè, đồng nghiệp, gia đình,… có thể làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi của con người. “Nhân thực được áp lực xã hội được thực hiện và không thực hiện hành vi” (Ajzen, 2017).
Theo TRA, con người phát triển các niềm tin hay các niềm tin chuẩn mực về việc thực hiện hành vi mà hành vi đó có được chấp nhận hay không. Những niềm tin này góp phần hình thành nhận thức của một người về hành vi và để xác định ý định thực hiện hoặc không thực hiện hành vi của một người. Mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) Mối quan hệ giữa thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức và kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến niềm tin hành vi, niềm tin chuẩn tắc và niềm tin kiếm soát.