CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CÁC YEU TO ANH HUONG DE CHỈ SỐ VN-INDEX 1. Thị trường chứng khoán 1. Khái niệm thị trường chứng khoán Theo Điều 6, Luật Chứng khoán (2006), “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.” Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những khoản tiết kiệm nhỏ trong xã hội và tập trung nguồn vốn dài hạn lớn cho các công ty, tổ chức kinh doanh và chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hoặc các dự án đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán.
Giao dịch này được thực hiện trên thị trường sơ cấp khi người mua mua chứng khoán lần đầu từ tổ chức phát hành và trên thị trường thứ cấp khi có đợt bán lại chứng khoán phát hành trên thị trường sơ cấp. Vì vậy, thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi. Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có kỳ hạn dưới 1 năm là hàng hóa của thị trường tiền tệ. Đặc điểm của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán có những đặc điểm chính sau: Các hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có khả năng cung cấp vốn trực tiếp tham gia thị trường, không có trung gian tài chính giữa họ.
Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Mọi người đều được tự do tham gia thị trường. Thị trường chứng khoán không áp đặt giá mà giá cả ở đây dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh những thông tin liên quan đến chứng khoán. Thị trường chứng khoán về cơ bản là thị trường liên tục.
Sau khi chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được giao dịch nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ nắm giữ thành tiền mặt bất cứ khi nào họ muốn. Phân loại thị trường chứng khoán Tùy theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc thị trường chứng khoán có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm của thị trường chứng khoán, thị trường được phân thành 3 loại: hàng hóa, sự luân chuyển nguồn vốn và phương thức tổ chức.
Phân loại theo loại hàng hoá: Căn cứ vào hàng hóa giao dịch trên thị trường, người ta có thể phân loại thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, thị trường phái sinh. Thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch các loại trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ được phát hành bởi tổ chức phát hành khoản vay dưới hình thức hoàn trả cả gốc và lãi. Thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch các loại cổ phiếu; nơi mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận sự đóng góp của các cổ đông.
Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm về phần đóng góp của mình. Thị trường phái sinh là thị trường nơi các sản phẩm phái sinh được mua và bán. Điển hình cho các công cụ này là hợp đồng tương lai, quyền chọn, quyền chọn cổ phiếu. Phân loại theo sự luân chuyển nguồn vốn: Thị trường được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp là thị trường phát hành chứng khoán hoặc là nơi đầu tiên mua bán chứng khoán. Trên thị trường này, giá chứng khoán chính là giá phát hành. Sàn giao dịch chứng khoán trên thị trường sơ cấp tăng vốn cho tổ chức phát hành. Đặc điểm của thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất chứng khoán mang lại vốn cho tổ chức phát hành.
Giá thị trường chứng khoán do tổ chức phát hành quyết định và in trên cổ phiếu. Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán, trao đổi các chứng khoán đã phát hành nhằm kiếm lợi nhuận, chuyển nhượng vốn đầu tư hoặc di chuyển tài sản xã hội. Không giống như thị trường sơ cấp, tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và người giao dịch chứng khoán chứ không phải tổ chức phát hành. Giao dịch trên thị trường thứ cấp thể hiện nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp được quyết định bởi cung cầu.
Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Phân loại theo phương thức tổ chức của thị trường: Căn cứ theo phương thức tổ chức của thị trường, thị trường chứng khoán chia thành hai loại: Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung. Thứ nhất, Thị trường tập trung là thị trường được tập trung tại Sở giao dịch Chứng khoán (SGDCK), nơi người mua và người bán (hoặc đại lý, người môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch chứng khoán hoặc trao đổi chứng khoán. Vì vậy, SGDCK là thị trường tập trung, nơi giao dịch, trao đổi cổ phiếu của các công ty lớn hoạt động hiệu quả.
Tại SGDCK, giao dịch tập trung tại một địa điểm; lệnh được chuyển lên sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để hình thành giá giao dịch. Thứ hai, khác với thị trường tập trung, thị trường phi tập trung hay thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) là thị trường của các nhà giao dịch và nhà tạo lập thị trường. Các thương gia có một danh mục đầu tư chứng khoán và họ sẵn sàng mua bán cho các thương nhân cũng như nhà đầu tư khác khi họ chấp nhận mức giá của họ. Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều so với khối lượng giao dịch của SGDCK.
Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ cấp) được thực hiện thông qua mạng lưới các công ty chứng khoán nằm rải rác trên cả nước và được kết nối bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo thỏa thuận. Ngoài SGDCK và thị trường OTC, thị trường chứng khoán thứ ba là thị trường dành cho những chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch trên thị trường tập trung và thị trường OTC. An ninh Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm tăng nhu cầu về vốn, đặc biệt là vốn dài hạn (Bộ tài chính, 2022).
Để đáp ứng nhu cầu vốn, doanh nghiệp và nhà nước đã phát hành chứng chỉ nợ để vay vốn của công chúng, gọi là trái phiếu. Mặt khác, với sự ra đời của công ty cổ phần, cổ phiếu ra đời, là phương tiện huy động vốn góp vào công ty. Đây là giấy chứng nhận xác nhận quyền sở hữu của Công ty tương ứng với phần vốn góp vào Công ty. Một cổ đông có quyền sở hữu một phần Công ty, nghĩa là Công ty sẽ chia sẻ cả lợi nhuận và rủi ro.
Trái phiếu và cổ phiếu là bằng chứng cho thấy các cá nhân đã đầu tư tiền dưới hình thức cho vay trực tiếp hoặc góp vốn vào công ty cổ phần và cũng là bằng chứng cho thấy mọi người có một số quyền cơ bản là quyền thu nhập. Vì vậy, trái phiếu và cổ phiếu đều được gọi là chứng khoán. Ngày nay, ngoài cổ phiếu và trái phiếu là hai loại chứng khoán chủ yếu, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhiều loại chứng khoán mới đã xuất hiện. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được trình bày dưới dạng chứng chỉ, bút toán hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Chúng ta có thể thấy rằng chứng khoán đại diện cho một số tiền nhất định mà các nhà đầu tư đã ứng trước và điều cơ bản là nó mang lại cho các cổ đông quyền nhận được những khoản thu nhập nhất định trong tương lai. Vì vậy, chứng khoán có thể được mua bán và lưu hành như hàng hóa.
Cổ phiếu Khái niệm cổ phiếu được hệ thống hóa từ một số giáo trình và theo các văn bản luật, bao gồm Giáo trình Thị trường tài chính (2015) do PGS. Hoàng Van Quỳnh và PGS. Nguyễn Thi Hoài Lê đồng chủ biên. "Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổphần của tổ chức phát hành." Ngoài ra, quy định chung về cổ phiếu được trích dẫn từ Điều 121 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14; Điều 4, khoản 2 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và các văn bản quy phạm phát luật có liên quan quy định về cổ phiếu.
Lịch sử của cổ phiếu gắn liền với lịch sử hình thành công ty cổ phần. Nói cách khác, cổ phiếu là sản phẩm riêng của công ty cổ phần. Khi thành lập công ty, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần được gọi là cổ đông.
Một cổ đông được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần. Quyền sở hữu của các cổ đông trong công ty tương ứng với số cổ phần mà các cổ đông nắm giữ. Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn.
Thông thường ở các nước khi xem xét cổ phiếu của một công ty cổ phần, có sự phân biệt giữa cổ phiếu được phép, cổ phiếu phát hành, cổ phiếu quỹ và cổ phiếu đang lưu hành. Cổ phiếu được ủy quyền Khi thành lập công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Nhưng pháp luật yêu cầu công ty phải đăng ký tổng số cổ phần của công ty và phải ghi trong điều lệ công ty. Số lượng cổ phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa mà một công ty có thể phát hành kể từ khi thành lập cũng như trong quá trình hoạt động.
Trường hợp cần thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành phải được đa số cổ đông chấp thuận và phải thay đổi Điều lệ công ty. Cổ phiếu phát hành Cổ phiếu phát hành là số lượng cổ phiếu công ty phát hành cho nhà đầu tư, nhỏ hơn hoặc tối đa bằng số lượng cổ phiếu được phép phát hành. Cổ phiếu quỹ Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành nhưng vì một số lý do nhất định, công ty trả tiền để mua lại một số cổ phiếu của chính công ty mình.