CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày luận văn này ở những chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRƯỚC 2. Kiểm toán CNTT Kiểm toán CNTT trong nghiên cứu này được hiểu là việc “kiểm tra và đánh giá hệ thống công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng, các chính sách và hoạt động của hệ thống CNTT” theo Trần Thị Hải Vân (2021).
Trong quy trình kiểm toán CNTT, người KTV sẽ thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán để xác định hệ thống CNTT của doanh nghiệp có đáp ứng được việc yêu cầu về bảo vệ tài sản, duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu và hỗ trợ đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời có thể sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. Theo ISACA (2010), kiểm toán CNTT đề cập đến việc kiểm tra và đánh giá mức độ tuân thủ một tiêu chuẩn hay hướng dẫn, mức độ chính xác của các báo cáo hoặc sự đáp ứng các mục tiêu về tính hữu hiệu và hiệu quả. Kiểm toán CNTT có thể được định nghĩa là việc kiểm tra chính thức, độc lập và khách quan đối với cơ sở hạ tầng CNTT của tổ chức để xác định xem các hoạt động (ví dụ: thủ tục, kiểm soát, v.) có liên quan đến việc thu thập, xử lý, lưu trữ, phân phối, và sử dụng thông tin tuân thủ các hướng dẫn, bảo vệ tài sản, duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu và hoạt động hiệu quả và hiệu quả để đạt được các mục tiêu của tổ chức (Senft và cộng sự, 2012) Theo Trần Thị Hải Vân và cộng sự (2022) cho rằng, kiểm toán viên CNTT chịu trách nhiệm kiểm tra và phân tích ba mục tiêu chính trong quá trình đánh giá hệ thống thông tin gồm: (i) Tính sẵn sàng - Hệ thống thông tin và thông tin có sẵn phục vụ cho nhu cầu của người sử dụng; (ii) Tính bảo mật - Dữ liệu và thông tin được lưu trữ an toàn và chỉ có sẵn cho những cá nhân được ủy quyền; và (iii) Tính toàn vẹn - Dữ liệu và thông tin từ hệ thống thông tin là chính xác, kịp thời và đáng tin cậy theo Alagić, Turulja, & Bajgorić (2021). 8 IT Audit là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng dựa trên đó người ta có thể đánh giá hoạt động của hệ thống IT để xác định xem hoạt động của hệ thống thông tin có thực hiện chức năng bảo quản tài sản và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu hay không (Mengistu, 2016).
Vai trò chính của IT Audit là đảm bảo tính toàn vẹn của hệ thống thông tin của tổ chức (Harb, 2012). Xác định và giải quyết rủi ro là một trong những vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp và IT là trọng tâm của bất kỳ tổ chức nào. Panwar và cộng sự (2014) định nghĩa IT Audit là “ quá trình tạo ra sự đảm bảo về việc liệu sự phát triển, triển khai và bảo trì hệ thống IT có đáp ứng các mục tiêu kinh doanh, bảo vệ tài sản thông tin và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu hay không”. Đối với kiểm toán CNTT, ưu điểm của việc áp dụng bất kỳ hệ thống nào dựa trên CNTT nhằm hỗ trợ KTV trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và thực hiện các thủ tục kiểm toán đã được hoàn thiện.
Việc sử dụng kiểm toán máy tính mang lại lợi ích to lớn như nâng cao chất lượng và khả năng phán đoán của KTV, tăng hiệu quả và giảm chi phí kiểm toán và cải thiện trong tình hình cạnh tranh. Với những điều trên, kiểm toán CNTT là quá trình sử dụng các bước giống nhau và lặp lại thời gian và địa điểm hoạt động và được áp dụng trong các tổ chức có nơi làm việc và mục tiêu tổ chức khác nhau. Chất lượng kiểm toán Theo Hosseinniakani và cộng sự (2014), chất lượng kiểm toán có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố có thể chia đơn giản thành: thông số kỹ thuật của KTV và các thuộc tính của quy trình kiểm toán. Vì vậy, những yếu tố đó có thể ảnh hưởng trực tiếp “ý kiến kiểm toán” được đưa ra để đưa ra sự đảm bảo hợp lý về độ tin cậy báo cáo tài chính từ đó nâng cao niềm tin của thị trường.
Nghiên cứu của Hosseinniakani và cộng sự (2014), đã hàm chứa sự cần thiết về năng lực và hành vi nghề nghiệp trong quá trình kiểm toán cũng như thái độ của KTV độc lập và khách quan để đảm bảo rằng kết quả (báo cáo kiểm toán) phản ánh đầy đủ ý kiến. Mặc dù có nhiều biện pháp được áp dụng nhưng “quy mô” có thể được coi là biện pháp quan trọng nhất để xác định chất lượng kiểm toán. Chất lượng kiểm toán thường được xác định bằng mức độ tuân thủ các chuẩn mực 9 kiểm toán. Ngược lại, các nhà nghiên cứu về kế toán, kiểm toán thì lại đề cấp đến nhiều chiều kích thước chất lượng kiểm toán và các kích thước này định nghĩa khác nhau.
Một số định nghĩa phổ biến khác như: đánh giá thị trường về khả năng báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu và KTV phải báo cáo việc phát hiện ra sai sót trong báo cáo tài chính đã phát hành không đủ tiêu chuẩn định nghĩa theo mức độ là đánh giá viên được công nhận. Mục đích của việc kiểm toán là phát hành các báo cáo tài chính, do đó, chất lượng kiểm toán có nghĩa là các báo cáo tài chính được kiểm toán không có các sai sót trọng yếu. Trên thực tế, định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của kết quả kiểm toán, báo cáo tài chính đã được kiểm toán là thực sự đáng tin cậy và phản ánh được chất lượng kiểm toán. Định nghĩa này dựa trên chất lượng của các cuộc kiểm toán được thực hiện, vì không thể xác định được mức độ tin cậy của báo cáo tài chính đã được kiểm toán trước khi thực hiện cuộc kiểm toán.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 220 (ISA 220), “Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp”. Khái niệm ở đây được hiểu trên khía cạnh mức độ thỏa mãn của đối tượng sử dụng các BCTC. Với đặc trưng của kiểm toán BCTC doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán thì đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán phổ biến nhất là các nhà đầu tư (cá nhân và tổ chức), sau đó là các cơ quan quản lý và doanh nghiệp được kiểm toán. Chất lượng kiểm toán CNTT Chất lượng kiểm toán công nghệ thông tin (CNTT) được định nghĩa là mức độ mà các hoạt động kiểm toán CNTT đáp ứng được các tiêu chí, yêu cầu và mong muốn của các bên liên quan, bao gồm cả khách hàng, các cơ quan quản lý, và các bên liên quan khác.
Đây là một khái niệm tổng thể, không chỉ bao gồm khía cạnh kỹ thuật mà còn bao 10 gồm các khía cạnh khác như độ tin cậy, tính bảo mật, tính hiệu quả và tính linh hoạt. Chất lượng kiểm toán CNTT được đánh giá thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, phương pháp và quy trình phù hợp, đảm bảo rằng quá trình kiểm toán được thực hiện một cách toàn diện và chính xác, từ việc xác định rủi ro đến việc cung cấp các khuyến nghị cải tiến. Chất lượng kiểm toán công nghệ thông tin cũng liên quan đến khả năng của các nhà kiểm toán CNTT trong việc áp dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng phân tích và đánh giá, cũng như khả năng hiểu biết sâu sắc về môi trường kinh doanh và các yếu tố liên quan. Điều này bao gồm cả việc đảm bảo tính hợp lý và khách quan trong quá trình kiểm toán, cũng như việc thực hiện các phương pháp và kỹ thuật kiểm toán phù hợp nhằm đảm bảo tính hiệu quả và tính linh hoạt theo Trần Thị Hải Vân và cộng sự (2022).
Cơ sở lý thuyết về khái niệm chất lượng kiểm toán công nghệ thông tin bao gồm các nền tảng sau: Các chuẩn mực và khung kiểm toán CNTT như: COBIT (Control Objectives for Information and Related Technology), ITIL (Information Technology Infrastructure Library), ISO/IEC 27001 (Information Security Management). Lý thuyết về kiểm toán nội bộ: COSO (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission), IIA (Institute of Internal Auditors). Các khung lý thuyết này xác định các nguyên tắc và thực hành tốt nhất về kiểm toán nội bộ, bao gồm cả kiểm toán CNTT. Lý thuyết về quản trị rủi ro: ISO 31000 (Risk Management), COSO ERM (Enterprise Risk Management) Các khung lý thuyết này cung cấp hướng dẫn về quản lý rủi ro toàn diện, bao gồm rủi ro CNTT.
Lý thuyết về đảm bảo chất lượng: ISO/IEC 17025 (General requirements for the competence of testing and calibration laboratories), ISO 9001 (Quality Management Systems). Các tiêu chuẩn này xác định các yêu cầu về hệ thống quản lý chất lượng, áp dụng cho cả kiểm toán CNTT. Việc vận dụng các cơ sở lý thuyết này sẽ giúp thiết lập và duy trì chất lượng kiểm toán CNTT, đáp ứng các yêu cầu và thông lệ tốt nhất trong lĩnh vực này. Hiện nay có nhiều tổ chức đã đưa ra các tiêu chuẩn thực hành 11 liên quan đến kiểm toán CNTT như AICPA, IIA, IFAC, CICA, GAO, ISACA.
Quy trình kiểm toán CNTT Theo Thùy Lê (2022), từ cổng thông tin điện tử Kiểm toán nhà nước Việt Nam và Trần Thị Hải Vân và cộng sự (2022), quy trình kiểm toán có thể bao gồm các giai đoạn sau: Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Đánh giá môi trường điều kiện kiểm toán: Xác định môi trường CNTT hiện tại của khách hàng, bao gồm hệ thống, quy trình, kiểm soát và cơ sở hạ tầng CNTT. Xác định mục tiêu kiểm toán: Xác định mục tiêu và phạm vi của quá trình kiểm toán CNTT, bao gồm các hệ thống, ứng dụng, dữ liệu và quy trình liên quan.