chương I. Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình. Điều này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến rủi ro và giá trị của công ty. Mục tiêu chính của quản lý tài chính là tối đa hoá giá trị của công ty cho các cổ đông của nó và việc lựa chọn cấu trúc vốn là một trong những quyết định quan trọng mà các nhà quản lý đưa ra để đạt được mục tiêu này (Richard A.
Brealey, 2006) Theo Nguyễn Thị Phương Nhung (2017) “Vốn đóng vai trò sống còn và quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Nợ và vốn chủ sở hữu là hai loại nguồn vốn chính. Vốn chủ sở hữu phát sinh khi các công ty bán một phần quyền sở hữu của mình cho nhà đầu tư để có thêm nguồn vốn hỗ trợ cho hoạt động. Trong khi đó nợ là nghĩa vụ hợp đồng giữa các công ty và các khoản tín dụng, và bên cho thuê sẽ nhận được không chỉ vốn mà cả lãi cho một khung thời gian quy định”.
Theo Lưu Thị Hương (2012) “Theo cách chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn của chủ. Nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Vốn của chủ sở hữu bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn”.
Cấu trúc vốn là tổng hợp các nguồn vốn mà một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình, bao gồm cả nguồn vốn nợ (bên trong và bên ngoài) và nguồn vốn chủ sở hữu (vốn góp của cổ đông). Cấu trúc vốn có thể được thay đổi và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu kinh doanh của công ty. Nhà quản trị cần xem xét các lựa chọn khác nhau về cấu trúc vốn, bao gồm mức độ sử dụng nguồn vốn nợ và nguồn vốn chủ sở hữu, thời gian vay, lãi suất, và các điều kiện gắn liền với nguồn vốn nợ. Do đó khi đánh giá về cấu trúc vốn các công ty ở Việt Nam, cần nhìn nhận cấu trúc vốn bao gồm các nguồn vốn mà công ty sử dụng, 16 cấu trúc vốn có thể được phản ánh qua hệ số nợ, hệ số vốn chủ sở hữu hay tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu.
Trong đó, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ tài sản của công ty bằng các khoản nợ, nghĩa là cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được hình thành bằng nợ phải trả. Khi hệ số nợ càng cao thì mức độ phụ thuộc của công ty vào chủ nợ càng lớn, tính tự chủ của công ty càng thấp. Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn 2.
Mô hình lý thuyết Modigliani và Miller Mô hình lý thuyết Modigliani-Miller (M&M) là một trong những mô hình cơ bản và quan trọng trong lĩnh vực tài chính DN. Được phát triển bởi Franco Modigliani và Merton Miller vào những năm 1950 và 1960 đưa ra những giải thích mối quan hệ giữa nguồn vốn và giá trị DN. Đến năm 1963, Modigliani và Miller đã bổ sung Định lý II của mô hình. Định lý II khẳng định rằng chi phí vốn trung bình của DN tăng theo tỷ lệ với tỷ lệ nợ.
Theo lý thuyết M&M, giả định một thị trường cạnh tranh hoàn hảo là bỏ qua thuế, thông tin bất cân xứng, chi phí đại diện, chi phí phá sản, chi phí giao dịch. Lý thuyết M&M giải thích rằng tất cả các tỷ lệ kết giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả là như nhau. Hay nói cách khác, giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào lượng cổ phần được phát hành mà chỉ phụ thuộc vào lượng tài sản của doanh nghiệp đó. Cũng có thể hiểu lý thuyết M&M theo hướng đó là bất kì lựa chọn vốn như thế nào, dù là sử dụng vốn chủ sở hữu hay lựa chọn nợ ngắn hạn hoặc dài hạn thì giá trị của doanh nghiệp là không thay đổi.
WACC là chi phí sử dụng vốn bình quân được tính bằng tỉ lệ được tính bằng bình quân gia quyền giữa chi phí nợ và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu. Khi DN tăng mức sử dụng nợ, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cũng tăng do nhà đầu tư có xu hướng đòi hỏi một mức lợi nhuận cao hơn do sự gia tăng về rủi ro vỡ nợ. Mô hình M&M cũng đưa ra kết luận rằng trong một thị trường hoàn hảo và không có ràng buộc, cấu trúc vốn của DN không ảnh hưởng đến giá trị của DN. Tuy 17 nhiên, trong thực tế, có nhiều yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của DN như lãi suất vay, rủi ro, tình hình thị trường, và quản lý tài chính của DN.
Do đó, việc lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý là một vấn đề quan trọng đối với các DN ngành lương thực, thực phẩm, đồng thời cũng phải được đánh giá dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng DN. Mô hình lý thuyết đánh đổi (Trade –Off Theory) Lý thuyết đánh đổi về cấu trúc vốn được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu nhằm giải thích rằng các công ty trong thực tế phải chấp nhận đánh đổi khi đưa ra những quyết định về cấu trúc vốn. Lý thuyết này đã giải thích được những mặt hạn chế của lý thuyết M&M bằng cách loại bỏ dần những giả định phi thực tế, một số nghiên cứu sau này đã đưa chi phí khốn khó tài chính và chi phí quản lý đại diện vào nghiên cứu. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off theory) đã được Kraus và Litzenberger đưa ra 1973, với quan điểm rằng tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu để tối đa hoá giá trị của DN dựa trên việc đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ.
Tỷ lệ đòn bẩy tối ưu được xem như một sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc vay nợ. Lợi ích của việc sử dụng nợ bao gồm lợi ích từ tấm chắn thuế do lãi vay, trong khi chi phí tiềm tàng của nợ bao gồm chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện giữa các bên liên quan. Lý thuyết đánh đổi đã giải thích một số hạn chế của lý thuyết M&M về chi phí kiệt quệ tài chính trong việc vay nợ của DN. Ngoài ra, lý thuyết cũng cho rằng có sự khác biệt trong cấu trúc vốn giữa các ngành có tài sản cố định khác nhau.
Các công ty an toàn với nhiều tài sản cố định và thu nhập chịu thuế cao hơn hoặc công ty có quy mô lớn và tính thanh khoản cao hơn thường có tỷ lệ nợ cao. Trong khi đó, các công ty rủi ro cao hoặc có tài sản vô hình nhiều mà giá trị sẽ không còn khi thanh lý thường có tỷ lệ nợ thấp. Lý thuyết cũng dự đoán rằng các công ty có lợi nhuận cao nên tăng cường tài trợ bằng nợ để tận dụng tấm chắn thuế, trong khi các công ty có tăng trưởng cao nên giảm việc vay nợ để đề phòng mất giá trị trong khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, lý 18 thuyết này cũng có hạn chế khi không giải thích được tại sao một số DN rất thành công trong ngành, có thu nhập hoạt động cao, lại có ít nợ và không tận dụng tấm chắn thuế.
Lý thuyết trật tự phân hạng( Pecking Order Theory) Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) là một mô hình lý thuyết trong lĩnh vực tài chính, được đề xuất bởi nhà kinh tế học Mỹ là Donaldson D. Peck vào những năm 1970. Lý thuyết này đưa ra giải thích về cách các DN lựa chọn và ưu tiên các nguồn tài nguyên tài chính khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn. Theo Lý thuyết trật tự phân hạng, các DN sẽ tuân theo một trật tự ưu tiên nhất định trong việc chọn lựa các nguồn vốn, bao gồm tiền mặt nội bộ, VCSH, và vốn nợ.
Trật tự ưu tiên này được xác định dựa trên khả năng tiếp cận và chi phí của từng nguồn vốn. DN sẽ ưu tiên sử dụng thu nhập giữ lại, tức là lợi nhuận tự doanh, để đáp ứng nhu cầu tài chính đầu tiên, bởi vì việc sử dụng thu nhập giữ lại không đòi hỏi phải trả lãi suất, không làm thay đổi cấu trúc cổ đông và không có rủi ro tài chính. Nếu không đủ thu nhập giữ lại, DN sẽ ưu tiên sử dụng vốn chủ sở hữu, tức là lợi nhuận của cổ phiếu của cổ đông hiện hành, để đáp ứng nhu cầu tài chính. Việc này giúp tránh phải chịu các chi phí liên quan đến vay nợ, như lãi suất và các rủi ro tài chính.
Nếu không đủ vốn chủ sở hữu, DN mới sử dụng vốn nợ để đáp ứng nhu cầu tài chính. Tuy nhiên, trong Lý thuyết trật tự phân hạng, việc sử dụng vốn nợ được coi là lựa chọn cuối cùng, chỉ khi không có các nguồn tài chính nội bộ khác có sẵn. Điều này là do việc sử dụng vốn nợ đòi hỏi phải trả lãi suất, có thể thay đổi cấu trúc Nguồn vốn bên trong được khuyến khích lựa chọn đầu tiên bởi vì công ty không phải công khai thông tin về các cơ hội đầu tư tiềm năng và lợi nhuận kỳ vọng mang lại từ các cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư hoặc các chủ nợ, ngoại trừ công bố mức chi trả cổ tức. Ngoài ra, quyết định lựa chọn nguồn vốn bên trong sẽ góp phần đảm bảo quyền kiểm soát cho các chủ sở hữu hiện tại không bị phân tán.
Lý thuyết ngƣời đại diện Lý thuyết đại diện, được đề xuất bởi Jensen và Meckling (1976), xem xét mối quan hệ giữa đại lý và chính trong các tổ chức. Theo lý thuyết này, người chủ sở hữu thuê một đại diện để hành động thay mặt họ, nhưng có khả năng xảy ra xung đột lợi ích giữa hai bên. Người đại diện có thể không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích cao nhất của người uỷ thác, dẫn đến phát sinh chi phí đại diện và nhu cầu về cơ chế giám sát và kiểm soát để điều chỉnh lợi ích của họ (Eisenhardt, 1989) 2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của công ty là một chỉ số tài chính thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của công ty dựa trên tài sản tổng cộng của DN.