phần mở đầu đã luận giải lý do lựa chọn đề tài, từ đó chỉ rõ mục tiêu cụ thể, xác định hướng nghiên cứu thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu, và giới hạn phạm vi nghiên cứu với thời gian 5 năm và không gian bao gồm 238 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HOSE. Sau khi khẳng định ý nghĩa, đóng góp của đề tài cho thực tiễn quản trị tài chính nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng như bổ sung bằng chứng kiểm định cũng như khẳng định các cơ sở lý thuyết có liên quan; 7 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢINHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2.
Bản chất và ý nghĩa của lợi nhuận Lợi nhuận là yếu tố để quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, lợi nhuận đƣa các doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất đạt hiệu quả nhất, sử dụng nguồn vốn hiệu quả nhất và sử dụng tối đa các nguồn lực. Lợi nhuận còn là mục tiêu để các nhà sản xuất kinh doanh mở rộng sản xuất và là động lực của bất kỳ ai kinh doanh trên thị trƣờng. Một doanh nghiệp đảm bảo đƣợc khả năng tạo ra lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có thể tích lũy vốn, qua đó gia tăng năng lực tài chính từ bên trong để có thể tồn tại và phát triển trong dài hạn góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp trên thị trƣờng theo lý thuyết trật tự phân hạng về cơ cấu vốn (Pecking order theory of capital structure); hay lợi nhuận chính là cơ sở chứng minh rằng doanh nghiệp đầu tƣ có hiệu quả, có thể làm giàu có hơn cho các chủ sở hữu, gia tăng niềm tin cho các chủ sở hữu và từ đó tạo nên sự thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tƣ từ các chủ sở hữu phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Không những thế, lợi nhuận tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp khi chƣa tính đến tác động của lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp chính là cơ sở để đảm bảo cho cam kết thanh toán chi phí lãi vay theo hợp đồng giữa doanh nghiệp với chủ nợ, giảm thiểu rủi ro kiệt quệ tài chính khi có đòn bẩy tài chính; hay lợi nhuận tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp khi chƣa tính đến tác động của lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ cho thấy đƣợc khả năng đóng góp của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn tạo ra lợi nhuận dành cho nền kinh tế, là thƣớc đo trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng nhƣ đo lƣờng khả năng đóng góp của doanh nghiệp vào thu ngân sách nhà nƣớc.
Đo lƣờng lợi nhuận của doanh nghiệp Dƣới góc độ tài chính, lợi nhuận của các doanh nghiệp cần phải đƣợc xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra nó nhƣ tổng vốn đầu tƣ, vốn chủ sở hữu,. (Ngô Kim Phƣợng, Lê Hoàng Vinh và các cộng sự, 8 2018; Richard A. Brealey và các cộng sự, 2008); do đó lợi nhuận đƣợc đo lƣờng bằng số tƣơng đối – tỷ suất lợi nhuận, thể hiện khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Theo lý thuyết chung về phân tích tài chính doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc tiếp cận và phân tích theo suất sinh lời trên tổng vốn đầu tƣ (Return on investment), suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on assets) hay suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity), lợi nhuận trên một cổ phiếu (Earnings per share),.
Trong giới hạn đề tài này, lợi nhuận đƣợc tiếp cận dƣới góc độ quản trị tài chính doanh nghiệp, theo đó lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc nhận diện và đánh giá thông qua hiệu quả sử dụng vốn tạo lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu (cổ đông), thƣờng đƣợc đo lƣờng bởi chỉ tiêu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu với cách tính cụ thể nhƣ sau: Lợi nhuận sau thuế Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn của chủ sở hữu tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì doanh nghiệp tạo ra cho họ bao nhiêu đồng lợi nhuận; chỉ tiêu này đã xét đến tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính. Nếu tiếp cận suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu theo giá thị trƣờng thì đây là chỉ tiêu sẽ đƣợc so sánh với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu để đánh giá hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị cho cổ đông; hay so sánh này giúp cho nhà đầu tƣ cổ phiếu có thể nhận biết đƣợc giá thị trƣờng hiện tại của cổ phiếu đang trong tình trạng cao, thấp hay đúng giá, từ đó nhà đầu tƣ có thể tự tin hơn khi đƣa ra quyết định mua, nắm giữ hay bán cổ phiếu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2. Cấu trúcvốn Thứ nhất, Lý thuyết M&M Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại của Modigliani và Miller đƣợc công bố năm 1958 đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vay mƣợn.
Lý thuyết M&M đƣợc phát biểu thành hai mệnh đề: Mệnh đề thứ nhất về giá trị doanh nghiệp, mệnh đề thứ hai về chi phí sử dụng vốn. Các mệnh đề này lần lƣợt đƣợc nghiên cứu trong hai trƣờng hợp có thuế và không có thuế thu nhập doanh nghiệp. 9 Lý thuyết M&M đưa ra các giả định: - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; - Không có chi phí giao dịch; - Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn về tài chính; - Cá nhân và doanh nghiệp đều có thể vay tiền ở mức lãi suất nhƣ nhau; - Thị trƣờng vốn là thị trƣờng hoàn hảo. Với những giả định trên, nội dung của lý thuyết M&M đƣợc phát biểu thành hai mệnh đề dƣới đây: Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay (VL) bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay (VU), nghĩa là VL=VU, nghĩa là cấu trúc vốn không ảnh hƣởng gì đến giá trị doanh nghiệp.
Mệnh đề thứ hai: Mệnh đề này cho rằng chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tăng lên nếu doanh nghiệp tăng nợ. Với các điều kiện giả định, chi phí sử dụng vốn vay thấp hơn chi phí sử dụng vốn vốn cổ phần nên nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, đồng thời chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng theo tỷ trọng nợ vay lại làm chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên. Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân không thay đổi. Mở rộng thêm cho lý thuyết M&M, giả định không có thuế thu nhập doanh nghiệp đã gỡ bỏ, và theo đó, lý thuyết M&M đã chứng minh và kết luận rằng: Mệnh đề thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp có sử dụng nợ vay bằng giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ vay cộng với giá trị hiện tại của lá chắn thuế từ lãi vay.
Theo mệnh đề này, cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và tăng đến mức tối đa khi doanh nghiệp dùng 100% nợ. Mệnh đề thứ hai: Tƣơng tự trƣờng hợp không có thuế, trƣờng hợp có thuế thì chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng lên theo mức độ sử dụng nợ vay. Vì vậy, doanh nghiệp tăng tỷ trọng nợ vay làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, đồng thời chi phí sử dụng vốn cổ phần cũng tăng theo tỷ trọng nợ vay lại làm chi phí sử dụng vốn bình quân với tốc độ tăng chậm hơn.
Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân giảm khi doanh nghiệp tăng hệ số nợ. 10 Thứ hai, Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off theory) Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thƣờng đƣợc tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, khi doanh nghiệp vay nợ ngày càng nhiều thì rủi ro phá sản sẽ ngày càng cao và làm sụt giảm giá trị doanh nghiệp; đến một lúc nào đó giá trị của tấm chắn thuế bằng với giá trị của chi phí kiệt quệ tài chính. Thuyết đánh đổi có ƣu điểm nhƣ giải thích đƣợc các khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành.
Chẳng hạn, các doanh nghiệp tăng trƣởng công nghệ cao, có tài sản hầu hết là tài sản vô hình thƣờng sử dụng ít nợ. Bên cạnh đó làm rõ hơn ảnh hƣởng của thuế, chi phí khánh kiệt tài chính đến cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cho rằng, các doanh nghiệp có nợ vay quá nhiều, không thể trả bằng tiền mặt trong vòng một vài năm, nên phát hành cổ phần, hạn chế cổ tức, hay bán bớt tài sản để huy động tiền mặt nhằm tái cấu trúc vốn. Tuy nhiên, cũng có nhiều điều mà lý thuyết đánh đổi chƣa thể giải thích nhƣ tại sao một số doanh nghiệp vẫn thành công, kết quả kinh doanh tốt trong khi vay rất ít nợ, hay trong thực tế khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp đang cao và doanh nghiệp đang có nhu cầu về tài trợ bên ngoài thì doanh nghiệp có nhiều khả năng phát hành cổ phiếu hơn là vay nợ.
Quy mô doanh nghiệp Theo lý thuyết về quy mô kinh tế (economies of scale), những doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ ít chịu ảnh hƣởng bởi các chi phí, đặc biệt là chi phí cố định. Đây cũng là yếu tố quyết định giúp các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ dễ dàng cải thiện lợi nhuận hơn các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ. Nói cách khác, doanh nghiệp có quy mô doanh nghiệp lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín, thƣơng hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn (ví dụ nhƣ dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn). Những doanh nghiệp này với sức mạnh về tài chính, tài sản và khả năng quản lý sẽ dễ dàng khai thác lợi thế theo quy mô doanh nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí đầu vào và gia tăng hiệu quả đầu ra.