Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn 2. Khái niệm về cấu trúc vốn theo ngành Theo McGuigan và cộng sự (2006), “Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho họat động của doanh nghiệp”. Định nghĩa về cấu trúc vốn tối ưu: “Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Tại cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tổng giá trị doanh nghiệp là lớn nhất”. Theo Brigham và Houstan (2004), đã đưa ra định nghĩa về cấu trúc vốn mục tiêu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường mà doanh nghiệp lên kế họach để huy động vốn”. Theo Ross và cộng sự (2006), cho thấy thuật ngữ đòn bẩy tài chính nói đến việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn. Vì thế thuật ngữ “đòn bẩy tài chính” cùng nghĩa với thuật ngữ “cấu trúc vốn”.
Cũng theo các tác giả này cấu trúc vốn tối ưu cũng được xem là cấu trúc vốn mục tiêu. Theo Đường Thị Thanh Hải (2017), cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn cân đối được giữa rủi ro và lợi nhuận, do đó tối đa hóa được giá cả cổ phiếu công ty. Ở Việt Nam, ngoài vốn chủ sở hữu, nợ dài hạn thì phần lớn các doanh nghiệp sử dụng nợ vay ngắn hạn trong cấu trúc vốn của mình. Tóm lại, khái niệm cấu trúc vốn của doanh nghiệp ở Việt Nam có thể khái quát rằng “tài trợ hoạt động của một doanh nghiệp bằng việc sử dụng nợ vay ngắn hạn, nợ vay dài hạn và vốn chủ sở hữu.
Vì thế, doanh nghiệp luôn hướng đến một cấu trúc vốn cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc tài trợ bằng nợ vay tạo nên cấu trúc vốn mục tiêu”. Ý nghĩa của cấu trúc vốn trong doanh nghiệp Đa số tại các doanh nghiệp luôn đề cao việc gia tăng giá trị doanh nghiệp và tăng trưởng lợi nhuận mỗi năm để đạt được điều đó các doanh nghiệp không ngừng đưa vốn đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh. Việc gia tăng huy động vốn một 7 phần tránh thiếu hụt vốn trong sản xuất kinh doanh, một phần giúp doanh nghiệp tránh các rủi ro có thể gặp phải do tài chính. Vì thế, việc chọn cho mình một cấu trúc vốn hợp lý nhằm có thể huy động, quản lý và sử dụng có tối ưu lợi ích nguồn vốn của mình, rủi ro tài chính và chi phí sử dụng vốn được giảm thiểu.
Đòn bẩy tài chính là công cụ mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp không thể không quan tâm khi quyết định một cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính một cách hợp lý sẽ làm gia tăng lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những rủi ro khó tránh khỏi. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp.
Theo lý thuyết Modigliani & Miller, tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra lá chắn thuế cho doanh nghiệp, đồng thời giúp các quyết định về quản lý giảm thiểu mức độ phân tán. Chi phí vay nợ có ảnh hưởng đáng kể tới việc vận hành hoạt động kinh doanh, thậm chí còn có thể dẫn đến việc phá sản doanh nghiệp. Ngoài ra, nguồn tài trợ góp vốn cổ phần không mang lại chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải bị sự can thiệp nhiều cổ đông vào hoạt động điều hành của công ty.
Họ luôn đặt kỳ vọng cao vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo sức ép đối với các nhà quản lý doanh nghiệp. Vì thế, một cấu trúc vốn phù hợp là lựa chọn quan trọng với tất cả doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi nhuận thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan đến tới doanh nghiệp và hoạtđộng của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới khả năng kinh doanh của doanh nghiệp, duy trì doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Các thành phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp đó. Các thành phần tài trợ cho nguồn vốn của một doanh nghiệp được chia thành hai loại: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
- Nợ phải trả của doanh nghiệp: Bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn là nguồn vốn mà DN có trách nhiệm thanh toán trong vòng 12 tháng. Nợ ngắn hạn thường có chi phí vốn thấp nhưng thường tạo ra một áp lực thanh toán đối với DN và để đầu tư vào các tài sản ngắn hạn. Nguồn tài trợ ngắn hạn của DN bao gồm: tín phiếu thương mại, vay ngắn hạn ngân hàng. 8 Nợ dài hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp có thể huy động được bằng hình thức vay nợ có thời hạn trên 12 tháng.
Khoản nợ nay ngoài bao gồm vay nợ ngân hàng thì còn bao gồm vay nợ huy động từ thị trường vốn bằng cách phát hành trái phiếu. Trên thị trường huy động vốn, khoản nợ dài hạn được xem là cam kết dài hạn mà tại ngày nhất định doanh nghiệp sẽ hoàn trả lại vốn gốc. Một hợp đồng vay nợ dài hạn bao gồm khoản nợ gốc hay mệnh giá của khoản vay nợ, thời gian vay nợ, lãi suất và hình thức trả lãi, các điều khoản kèm theo. - Nguồn vốn chủ sở hữu: Là khoản vốn mà khi thành lập doanh nghiệp chủ sở hữu đóng góp vào hoặc lợi nhuận kinh doanh của doanh nhiệp thuộc về chủ sở hữu nhưng được giữ lại do chưa được phân chia và dung cho mục đích tái đầu tư, thiết lập nguồn kinh phí và các quỹ.
Ngoài ra, với mọi loại hình DN, vốn chủ sở hữu sẽ có tên gọi khác nhau, trong CTCP vốn chủ sở hữu gọi là cổ đông, do cổ đông góp vốn vào bằng hình thức cổ phần còn gọi là vốn cổ phần, bên cạnh đó lợi nhuận thuộc về các cổ đông nhưng được doanh nghiệp giữ lại nhằm mục đích tái đầu tư, thiết lập nguồn kinh phí và các quỹ. Vốn cổ phần còn được chia thành ba loại vốn cổ phần ưu đãi, vốn cổ phần thường hay vốn cổ phần phổ thông. Các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp được chia làm hai quan điểm là quan điểm hiện đại và quan điểm truyền thống. Đối với quan điểm truyền thống: Nghiên cứu của Daivd Durand (1952), là công trình đầu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp với các giả định như: doanh nghiệp hoạt động trong môi trường có thuế thu nhập doanh nghiệp, thị trường tài chính là không hoàn hảo, doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ.
Tuy nhiên, nếu mức độ sử dụng nợ thấp thì chủ sở hữu và chủ nợ có thể không điều chỉnh suất sinh lời kỳ vọng, hoặc có điều chỉnh nhưng không đáng kể. Lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu được hiểu là cấu trúc vốn có tác động đến chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp hay nói cách khác có một điểm tối ưu ở đó chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp là nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp cao nhất. 9 Đối với quan điểm hiện đại: tác giả đã tổng hợp 5 lý thuyết khác nhau đó là: lý thuyết nhân quả, lý thuyết Modigliani và Miller, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết Durand – Tác động của chi phí sử dụng nợ vay và vốn chủ sở hữu đến giá trị doanh nghiệp. Cụ thể hơn là: 2.
Lý thuyết nhân quả Phương pháp nghiên cứu nhân quả còn gọi là phương pháp nghiên cứu giải thích (Causal research/ Causal studies). Nghiên cứu quan hệ nhân quả cũng là loại nghiên cứu mô tả nhằm mục đích tìm hiểu một hiện tượng hay một vấn đề nào đó nhằm trả lời câu hỏi: Xảy ra như thế nào? Tại sao xảy ra hiện tượng, vấn đề đó? Chính vì vậy, phương pháp nghiên cứu nhân quả đặt nền tảng để xây dựng lý thuyết ở hiện tại. Từ đó dự đoán kết quả sẽ xảy ra trong tương lai để có những bước đi phù hợp trong hiện tại. Nói cách khác, phương pháp nghiên cứu nhân quả là các nghiên cứu nhằm mục đích tìm mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả giữa các biến của một hiện tượng hay của một vấn đề.
Có hai phương pháp nghiên cứu để khám phá các mối quan hệ nhân quả giữa các biến: thực nghiệm và mô phỏng. Thực nghiệm (Experimentation): Là một dạng phương pháp nghiên cứu dùng để xác định mối quan hệ nhân quả (causal relationship) của các biến trong một hiện tượng hay vấn đề. Muốn thực hiện các dự án nghiên cứu nhân quả, chúng ta phải dùng các thiết kế thực nghiệm. Có 3 biến thực nghiệm cơ bản: Biến độc lập (independent variables): Là các biến số thay đổi được – nguồn gốc gây ra thay đổi cho hiện tượng hay sự vật.
Biến số phụ thuộc (dependent variables): Là biến số kết quả - là kết quả của những thay đổi gây bởi biến số độc lập. Biến số ngoại lai (extraneous variables): Là biến số không thể đo lường được (không biết hoặc không kiểm soát được) nhưng có ảnh hưởng đến mối quan hệ nhân quả. Đó là một vài nhân tố khác diễn ra ở đời sống thực tế có thể tạo ra những thay đổi lên biến số độc lập. 10 NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ Biến số độc lập Biến số phụ thuộc ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ Biến số ngoại lai ̀ h 2.1: Sơ đồ các loại biến số trong mối quan hệ nhân quả Hin Nguồn: Tác giả tổng hợp - Điều kiện cho mối quan hệ nhân quả: Biến nguyên nhân và biến kết quả phải biến thiên đồng hành với nhau.
Khi biến nguyên nhân thay đổi (tăng hay giảm) thì biến kết quả cũng phải thay đổi tương ứng. Biến kết quả phải xuất hiện sau hoặc đồng thời với biến nguyên nhân. Không có những lý giải khác cho biến kết quả trừ biến nguyên nhân đã được xác định.